Skip to main content

Go Search
Trang chủ
Văn kiện cơ bản của WTO
Tiếp cận thị trường
Vòng Doha
WTO - Hỏi và Đáp
Góp ý thông báo
Đăng ký thành viên
English
  
> Đánh giá tác động > WTO và ảnh hưởng đến ngành Dệt May Việt Nam  

Đánh giá tác động: WTO và ảnh hưởng đến ngành Dệt May Việt Nam

Title Original

WTO và ảnh hưởng đến ngành Dệt May Việt Nam  

Body

Một số hiệp định của WTO có thể điều chỉnh hoạt động của ngành may mặc. Thứ nhất, Hiệp định Tổng quan về Thuế quan và Thương mại (1994) được ký kết vào năm 1994 có những quy định chung về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia đối với hoạt động trao đổi hàng hóa, trong đó có hàng dệt may. Theo đó, hàng dệt may xuất khẩu của thành viên WTO vào một nước thành viên khác sẽ nhận được những đối xử tốt nhất (chẳng hạn, về thuế nhập khẩu) mà nước thành viên ấy dành cho các thành viên WTO.

Thứ hai, Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngành dệt may. Với mục tiêu nhằm bảo đảm các quy định, tiêu chuẩn, thủ tục kiểm định và chứng nhận không tạo ra những trở ngại không cần thiết đối với thương mại, rõ ràng, Hiệp định này có thể ảnh hưởng đến việc vận dụng các hàng rào kỹ thuật nhằm hạn chế nhập khẩu hàng dệt may ở các nước thành viên.

Trong những năm gần đây, các quốc gia thành viên đã áp dụng rất nhiều quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật, với lý do nhằm bảo đảm cho hàng hóa đủ chất lượng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân bản xứ - vốn có mức sống cao hơn - hoặc nhằm khuyến khích các xã hội hiện đại sử dụng các hàng hóa thân thiện với môi trường. Tuy vậy, những lý do này thường được sử dụng để bào chữa cho những rào cản kỹ thuật có tác động bóp méo quá mức cần thiết. Bản thân việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của nước ngoài cũng gây ra những khoản chi phí không nhỏ cho các nhà sản xuất và xuất khẩu, và làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu.

Thứ ba, các quy định về xuất xứ của hàng hóa cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng thâm nhập thị trường của các sản phẩm dệt may. Các quy định này liên quan đến các tiêu chí được sử dụng nhằm xác định xem sản phẩm được sản xuất ở đâu. Đây là một phần quan trọng trong quy định thương mại vì nhiều chính sách có phân biệt giữa các nước xuất khẩu (liên quan đến hạn ngạch, thuế suất ưu đãi, chống bán phá giá, v.v.), trong khi quá trình toàn cầu hóa đang khiến các sản phẩm được sản xuất qua các công đoạn ở nhiều nước khác nhau trước khi đến với người tiêu dùng cuối cùng.

Theo Hiệp định về Quy định xuất xứ, các thành viên WTO phải bảo đảm các quy định xuất xứ được ban hành và thực thi một cách minh bạch, mà không có tác dụng hạn chế, bóp méo, hay gián đoạn đối với thương mại quốc tế, và được quản lý một cách thống nhất, đầy đủ, và hợp lý. Về dài hạn, Hiệp định hướng tới sự hài hòa hóa các quy định về xuất xứ của các nước thành viên WTO, ngoại trừ các quy định trong một số hiệp định ưu đãi thương mại (như hiệp định thương mại tự do). Tất cả các quốc gia đều thừa nhận rằng việc hài hòa hóa các quy định này sẽ góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế. Các quy định về xuất xứ được sử dụng nhằm: thực hiện các biện pháp và công cụ chính sách thương mại như thuế chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ, v.v.; xác định xem liệu sản phẩm nhập khẩu sẽ nhận được ưu đãi tối huệ quốc hay chỉ là ưu đãi thương mại; thống kê thương mại; vận dụng các quy định về nhãn mác; và phục vụ cho mua sắm chính phủ. Tuy vậy, các quy định này cũng có thể được vận dụng thiếu hợp lý với mục đích bảo hộ. Chính vì vậy, Hiệp định về xuất xứ hàng hóa có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngành dệt may.

Thứ tư, định giá hải quan cũng là một vấn đề cần được tính đến. Định giá hải quan là một thủ tục hải quan được thực hiện nhằm xác định giá trị hải quan của hàng nhập khẩu. Đối với các đơn vị nhập khẩu, quá trình này có ý nghĩa quan trọng như là mức thuế được áp dụng, vì nếu mức thuế được tính theo tỷ lệ % của giá trị hải quan, giá trị hải quan cũng ảnh hưởng đến mức thuế phải chịu đối với hàng nhập khẩu. Hiệp định về định giá hải quan trong khung khổ WTO hướng tới một hệ thống định giá hàng hóa cho mục đích hải quan được thực hiện một cách công bằng, đồng nhất, và trung tính. Kể từ khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định này đã được thay thế bằng Hiệp định về thực thi Điều VII của GATT 1994, và chỉ áp dụng đối với quá trình định giá hàng nhập khẩu để áp dụng mức thuế nhập khẩu theo tỷ lệ %.

Theo đó, định giá hải quan chủ yếu dựa trên giá hàng hóa thực trả - thường được thể hiện trên hóa đơn - có thực hiện một số điều chỉnh được nêu trong Điều VIII. 6 phương pháp định giá được sử dụng là: (1) giá trị giao dịch; (2) giá trị giao dịch của hàng hóa giống hệt; (3) giá trị giao dịch của hàng hóa tương tự; (4) phương pháp trừ (deduction); (5) phương pháp tính toán (computed method); (6) phương pháp dự phòng (fall back method).

Hiện tại các Doanh nghiệp Dệt May Việt Nam đang thực hiện các hợp đồng gia công là chủ yếu, vì vậy các DN chưa thấy rõ được sự ảnh hưởng của Hiệp định này. Tuy nhiên các DN đang phấn đấu tăng dần tỷ lệ đơn hàng theo phương thức FOB, do vậy việc hiểu biết Hiệp định này là một việc cần thiết để các DN chủ động sử dụng được lợi thế của phương pháp định giá này tăng tính cạnh tranh của sản phẩm may mặc Việt Nam khi hội nhập thế giới.

Một hiệp định khác có thể ảnh hưởng đến ngành dệt may khi gia nhập WTO là quy định về việc bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng dệt may, sau khi Hiệp định về Dệt May (ATC) chấm dứt vào cuối năm 2004. Trước đây, trong giai đoạn 1974-1994, theo Hiệp định về thỏa thuận đa sợi (MFA), hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may được đàm phán song phương giữa các thành viên WTO, qua đó cho phép nhập khẩu hàng dệt may không chịu điều chỉnh hoàn toàn của GATT. Trong giai đoạn 1995-2004, Hiệp định ATC được thực hiện với vai trò là một công cụ chuyển đổi, giúp đưa các sản phẩm dệt may trở lại quy trình tự do hóa theo GATT 1994. Kể từ 01/01/2005, hàng dệt may xuất khẩu từ một nước thành viên WTO sang một nước thành viên khác sẽ không còn chịu hạn ngạch nữa. Như vậy, với việc gia nhập WTO, Việt Nam sẽ không còn gặp phải vấn đề hạn ngạch khi xuất khẩu hàng dệt may nữa. Điều này giúp Việt Nam có nền tảng cạnh tranh công bằng hơn, ít nhất là về mặt pháp lý, với các nước sản xuất hàng dệt may khác như Ấn Độ, Băng-la-đét, Trung Quốc, v.v.

Ngoài ra, hoạt động xuất nhập khẩu hàng dệt may cũng chịu điều chỉnh của các quy định khác trong khung khổ của WTO như xử lý tranh chấp, tự vệ. Nếu cho rằng một đối tác thành viên khác vi phạm các quy định về thương mại của WTO, các nước có thể vận dụng cơ chế xử lý tranh chấp ở cấp độ đa phương, thay vì đơn phương thực hiện các biện pháp đáp trả. Kể từ vòng đàm phán Uruguay, quá trình xử lý tranh chấp đã được tổ chức tốt hơn, với các bước được quy định rõ ràng. Quy định về thời hạn xử lý tranh chấp cũng rõ ràng hơn, trong khi thời gian của các bước lại linh hoạt.

Mặc dù vậy, các quốc gia liên quan cũng có thể tự đàm phán và xử lý tranh chấp. Cơ chế tự vệ cũng cho phép vận dụng những bảo hộ khẩn cấp đối với hàng nhập khẩu. Khi ấy, một thành viên WTO có thể tạm thời hạn chế nhập khẩu một loại hàng hóa nào đó nếu ngành công nghiệp trong nước bị tổn thương hoặc bị đe dọa do nhập khẩu hàng hóa ấy gia tăng. Tuy nhiên, các biện pháp này ít được sử dụng, vì các chính phủ thường ưu tiên đàm phán song phương nhằm thuyết phục các nước đối tác tự nguyện hạn chế xuất khẩu (các biện pháp vùng xám).

Ngoài các hiệp định trong khung khổ WTO, các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam tham gia ký kết và thực thi cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may. Đáng chú ý, các hiệp định thương mại tự do này chủ yếu được ký trong khung khổ của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Các hiệp định thương mại này bao gồm Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP), và Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Úc - Niu Dilân (AANZFTA). Ngoài ra, Việt Nam còn có Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) - có thể ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu dệt may vào thị trường Nhật Bản.

Expires

 
Attachments
Created at 08/11/2010 22:18  by huongdn 
Last modified at 10/11/2010 16:29  by webmaster 

ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
Số 2 Phạm Sư Mạnh, Hà Nội, Việt Nam
ĐT: (043) 8262549 - Fax: (043) 9348959
Email:
NCIEC@MOIT.GOV.VN

Cổng thông tin được xây dựng với hỗ trợ của Dự án MUTRAP II do Liên minh châu Âu tài trợ