Skip to main content

Go Search
Trang chủ
Văn kiện cơ bản của WTO
Tiếp cận thị trường
Vòng Doha
WTO - Hỏi và Đáp
Góp ý thông báo
Đăng ký thành viên
English
  
> Đánh giá tác động > Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề lao động - việc làm và an sinh xã hội  

Đánh giá tác động: Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề lao động - việc làm và an sinh xã hội

Title Original

Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề lao động - việc làm và an sinh xã hội 

Body

Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong những năm qua đã minh chứng cụ thể cho quan điểm đúng đắn của Đảng ta, nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá cao, đồng thời chúng ta đã thực hiện có hiệu quả các vấn đề xã hội, trong đó có việc làm cho người lao động.

    Giải quyết việc làm cho người lao động

    Đảng ta nêu rõ: "Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển". Cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời thực hiện ngay công bằng xã hội, xác định rõ tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội, ngược lại thực hiện tốt công bằng xã hội lại trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, quá trình này phải được thực hiện ngay, đồng thời trong từng bước phát triển.

    Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta luôn được duy trì ở mức ổn định và khá cao, bình quân giai đoạn 2001 - 2005 là 7,5%/năm, năm 2006 là gần 8,2%, năm 2007 là 8,5%, và 6 tháng đầu năm 2008 là 6,5%, dù gặp rất nhiều khó khăn.

    Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển mạnh các thành phần kinh tế, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích kinh tế tư nhân và hộ gia đình, thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, từ năm 2001 đến nay, vốn đầu tư ngày càng tăng, hằng năm chiếm trên 35% - 40% GDP. Hiện nay, cả nước có khoảng 234 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (khoảng 113 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động), với khoảng 2 nghìn làng nghề, 110 nghìn trang trại, 3 triệu hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương, tiểu chủ... đã thu hút hàng chục triệu lao động vào làm việc.

    Bên cạnh đó, nhiều chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn với các mô hình kinh tế trang trại, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy hải sản, trồng và bảo vệ rừng, phát triển các làng nghề, xã nghề...; chương trình xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế mở...; xây dựng các công trình trọng điểm như đường Hồ Chí Minh, thủy điện Sơn La, lọc dầu Dung Quất,... được thực hiện không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo nhiều việc làm cho người lao động.

    Tăng trưởng kinh tế nhanh trong thời gian qua chính là động lực chủ yếu để tạo thêm nhiều việc làm ổn định và bền vững cho người lao động. Từ năm 2001 đến nay, số người có việc làm tăng thêm 5,55 triệu người, bình quân mỗi năm tăng thêm từ 900 nghìn đến 1 triệu người. Nhìn chung, mức tăng này chỉ tương ứng mức tăng thêm của lực lượng lao động hằng năm, tỷ lệ thất nghiệp có được giảm nhưng không đáng kể, từ 6,28% (năm 2001) xuống còn 5,1% (năm 2006). Theo thống kê hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị gần 72%, vùng nông thôn khoảng 10%. Số người chưa có việc làm khoảng 3,2 triệu người.

    Xét trên góc độ toàn nền kinh tế, kinh tế tăng trưởng càng cao thì khả năng tạo việc làm càng nhiều trong điều kiện năng suất lao động không thay đổi nhiều. Qua số liệu thực tế về phát triển kinh tế Việt Nam những năm qua cho thấy, nếu kinh tế tăng trưởng 1% thì việc làm tăng từ 0,3% - 0,35%. Tuy nhiên, nhìn chung, chất lượng việc làm mới được tạo ra còn thấp, vì việc làm chủ yếu được tạo thêm trong khu vực nông nghiệp với trang bị công nghệ và trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp; cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng còn chậm. Nếu năm 2000, tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ lần lượt là 62,6%, 13,1% và 24,3% thì đến năm 2006, cơ cấu này lần lượt là 54,7%, 18,3% và 27% v.v..

    Do phụ thuộc vào năng suất lao động nên khả năng tạo thêm việc làm trong các ngành cũng khác nhau. Qua các cuộc khảo sát, nghiên cứu từ thực tiễn cho thấy, cứ 1% tăng GDP trong nông nghiệp thì việc làm tăng thêm từ 0,38% - 0,39%, trong ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ lần lượt là 0,1% - 0,15% và 0,5% - 0,55%. Điều này cho thấy, tăng trưởng từ ngành công nghiệp - xây dựng đòi hỏi chi phí vốn sản xuất ban đầu lớn nên khả năng tạo việc làm thấp trong khi phát triển dịch vụ sẽ góp phần tạo ra nhiều việc làm nhất, đặc biệt là các dịch vụ buôn bán nhỏ, phục vụ du lịch trong các khu vực phi chính thức khá phổ biến ở nước ta với mức đầu tư tương đối thấp.

    Ngày nay, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang được đẩy nhanh, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ theo chiều sâu, hợp tác và phát triển là xu hướng chủ đạo trên toàn thế giới, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển và mở ra nhiều triển vọng cho mỗi quốc gia. Đảng ta nhận thức rõ toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan, đã đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, chủ động đàm phán song phương và đa phương. Sau 10 năm kiên trì thực hiện, ngày 7-11-2006, nước ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Đây là cơ hội lớn để Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc mở rộng thị trường hàng hóa và dịch vụ, đẩy mạnh thu hút các nguồn vốn ODA và FDI, thúc đẩy kinh tế phát triển. Cơ hội rõ nét nhất cho tăng trưởng kinh tế được tập trung chủ yếu trong các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu thu hút nhiều lao động (dệt may, giày dép, chế biến thủy hải sản...), khu vực có mức tăng trưởng cao của nền kinh tế (viễn thông, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, du lịch...) và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ yếu trong các ngành dịch vụ cao cấp và khu vực công nghiệp, góp phần đẩy mạnh hơn nữa chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực.

    Thách thức không nhỏ

    Tuy nhiên, hội nhập kinh tế thúc đẩy tăng trưởng nhưng cũng đem đến những thách thức không nhỏ trong giải quyết việc làm. Nếu đây là cơ hội to lớn cho phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ, thì đối với khu vực nông nghiệp - nơi tập trung chủ yếu lao động nước ta đang làm việc (54%), cũng là khu vực đóng góp một phần đáng kể vào tạo việc làm hằng năm cho lao động (30% - 40%) - sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm và thiếu việc làm lớn, khi nước ta phải cam kết về xóa bỏ những trợ cấp nông nghiệp và cắt giảm thuế nhập khẩu nông sản cùng với đó là thị trường mở cửa, hàng hóa nông sản các nước tràn vào trong khi hàng nông sản nước ta kém về chất lượng, hạn chế về an toàn thực phẩm, mẫu mã, bao bì... Do đó, lao động nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng lớn cả về thu nhập, việc làm.

    Mặt khác, hội nhập thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất ra đời dẫn đến đất nông nghiệp bị thu hẹp, lao động nông nghiệp thiếu đất canh tác, thiếu việc làm hoặc mất việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn do đối tượng lao động nông nghiệp chủ yếu trên 35 tuổi (độ tuổi khó khăn trong chuyển đổi nghề) chiếm 52,3%, phần lớn chưa qua đào tạo và khó chuyển đổi nghề.

    Giải pháp đột phá trong giai đoạn tới

    Tác động của tăng trưởng kinh tế với việc làm không phải là tác động duy nhất. Hơn nữa tác động này đòi hỏi phải có một quá trình, với thời gian nhất định. Nhận thức rõ điều đó, Đảng ta chủ trương song song với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội, trong đó có tạo việc làm cho người lao động, coi phát triển kinh tế là tiền đề, nhân tố chính giải quyết việc làm cho người lao động đồng thời có sự can thiệp, điều chỉnh hợp lý từ phía Nhà nước để kết hợp hài hòa hai mối quan hệ này. Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tận dụng cơ hội của hội nhập đồng thời tạo nhiều việc làm cho người lao động, chúng ta tập trung thực hiện các giải pháp có tính chất đột phá trong giai đoạn tới:

    Thứ nhất, tận dụng thời cơ của hội nhập, ra sức phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần tạo nhiều việc làm theo hướng: ưu tiên phát triển những ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu, những ngành mà Việt Nam có lợi thế trong hội nhập; những ngành kinh tế mũi nhọn, sử dụng lao động có trình độ kỹ thuật cao đồng thời tăng đầu tư, khuyến khích những ngành công nghiệp đòi hỏi ít vốn, sử dụng nhiều lao động, đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật không cao; thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, hình thành những khu công nghiệp, khu chế xuất; đầu tư, đẩy mạnh các ngành du lịch, dịch vụ và thương mại... Đây chính là giải pháp quan trọng mà Đảng ta xác định nhằm kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có giải quyết việc làm.

    Thứ hai, đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2010. Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm là một trong những công cụ quan trọng của Chính phủ để thực hiện chủ trương của Đảng về giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và giải quyết việc làm, trong đó chú trọng thực hiện tốt dự án cho vay vốn giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm, ưu tiên cho vay vốn đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ, các làng nghề, xã nghề tiểu, thủ công nghiệp, sản xuất hàng mỹ nghệ; cho vay vốn đối với các dự án tạo việc làm ở vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, phát triển các vùng chuyên canh, các trang trại chăn nuôi, trồng trọt,... góp phần tạo nhiều việc làm ổn định và chất lượng trong khu vực phi chính thức.

    Thứ ba, trong hội nhập, khu vực nông nghiệp, nông thôn chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực nhất. Vì vậy, phải đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phát triển mạnh các làng nghề, xã nghề, khôi phục, mở rộng các nghề truyền thống tiểu, thủ công nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với quy mô nhỏ và vừa tại nông thôn... Từng bước chuyển lao động nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp; bố trí các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, nhu cầu đào tạo không cao về nông thôn; khôi phục và phát triển các làng nghề sản xuất tiểu, thủ công nghiệp và dịch vụ; ưu tiên giải quyết việc làm bền vững cho nông dân trong vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp.

    Thứ tư, quan tâm công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về việc coi đây là một trong những giải pháp quan trọng trước mắt tạo việc làm cho lao động; từng bước ổn định và mở rộng thị trường sang các khu vực, các nước phù hợp với lao động Việt Nam, quan tâm đào tạo giáo dục định hướng và nâng cao tay nghề cho lao động, bảo đảm lao động Việt Nam có thể chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế./.

Nguồn: TS. Quốc An

Expires

 
Attachments
Created at 15/08/2008 10:54  by hainx 
Last modified at 15/08/2008 10:54  by hainx 

ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
Số 2 Phạm Sư Mạnh, Hà Nội, Việt Nam
ĐT: (043) 8262549 - Fax: (043) 9348959
Email:
NCIEC@MOIT.GOV.VN

Cổng thông tin được xây dựng với hỗ trợ của Dự án MUTRAP II do Liên minh châu Âu tài trợ