Skip to main content

Go Search
Trang chủ
Văn kiện cơ bản của WTO
Tiếp cận thị trường
Vòng Doha
WTO - Hỏi và Đáp
Góp ý thông báo
Đăng ký thành viên
English
  
> Diễn đàn WTO  

Diễn đàn WTO

Modify settings and columns
Diễn đàn WTO
  
View: 
Nội dungFilter
WTO & Market access Portal- Theo nguyên tắc về đối xử tối huệ quốc (MFN), nếu Việt Nam đã cam kết dành một ưu đãi nào đó cho một cho doanh nghiệp nước khác theo một Hiệp định song phương ký giữa Việt Nam và nước đó ở mức cao hơn cam kết trong WTO, Việt Nam sẽ phải dành ưu đãi ở mức tương ứng cho tất cả các doanh nghiệp của các thành viên khác trong WTO.

Tuy nhiên, quy tắc MFN không áp dụng đối với cam kết trong lĩnh vực dịch vụ vận tải biển (Việt Nam đã đưa ra ngoại lệ miễn trừ việc áp dụng nguyên tắc MFN trong lĩnh vực này). Vì vậy, những ưu đãi mà Việt Nam dành cho các doanh nghiệp vận tải biển theo các Hiệp định vận tải song phương sẽ không nhất thiết được dành cho các doanh nghiệp đến từ các nước khác trong WTO.

Miễn trừ MFN này sẽ có hiệu lực trong vòng 5 năm kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO (riêng Hiệp định hàng hải giữa Việt Nam và Singapore được miễn 10 năm).

Nếu Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường hàng hải trong một Hiệp định song phương rộng hơn mức cam kết trong WTO thì áp dụng quy định nào?Use SHIFT+ENTER to open the menu (new window).
WTO & Market access Portal- Các văn bản chính quy định về vấn đề này tại Việt Nam bao gồm:

- Bộ luật Hàng hải
- Luật Đầu tư
- Nghị định 115/2007/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển.

Theo các văn bản này (và đặc biệt là theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP), việc mở cửa thị trường dịch vụ hàng hải mà Việt Nam đã có cam kết trong WTO cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ thực hiện theo đúng cam kết đó.

Hộp 1 – Mức độ mở cửa thị trường dịch vụ hàng hải của Việt Nam trong WTO là rộng hơn hay hẹp hơn quy định trước đây?
Về cơ bản, Việt Nam đưa ra cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực hàng hải rộng hơn mức mở cửa áp dụng vào thời điểm trước khi gia nhập WTO.
Ví dụ, tại Nghị định 10/2001/NĐ-CP (áp dụng trước khi các cam kết WTO có hiệu lực), đối với hầu hết liên doanh cung cấp các dịch vụ hàng hải, phía nước ngoài chỉ được nắm tối đa 49% vốn trong liên doanh.
Như vậy, thị trường dịch vụ hàng hải sau thời điểm 11/1/2007 về cơ bản là thông thoáng hơn cho nhà đầu tư nước ngoài so với trước khi Việt Nam gia nhập WTO.

Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về việc mở cửa thị trường dịch vụ hàng hải cho nhà đầu tư nước ngoài?Use SHIFT+ENTER to open the menu (new window).
WTO & Market access Portal- Việt Nam cam kết cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ vận tải biển (hàng hải) tại Việt Nam dưới các hình thức hiện diện sau với các điều kiện nhất định:

Trường hợp cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa:

Nhà đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam để vận hành (khai thác) đội tàu treo cờ Việt Nam với các điều kiện sau:

  1. Được thành lập sau ngày 11/1/2009;
  2. Phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh;
  3. Thuyền viên nước ngoài được phép làm việc trên các tàu biển treo cờViệt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam nhưng tổng số không vượt quá 1/3 định biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam.

Trường hợp cung cấp dịch vụ liên quan đến vận tải biển quốc tế (tức là các dịch vụ tích hợp liên quan đến hàng hóa mà doanh nghiệp nước ngoài đã đảm trách khâu vận tải biển):

Các công ty vận tải biển nước ngoài có thể hiện diện tại Việt Nam dưới các hình thức sau và điều kiện hoạt động sau:

Về hình thức:
- Thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam ngay sau ngày 11/1/2007 với điều kiện tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không quá 51% vốn điều lệ của liên doanh;

Tuy nhiên, số lượng liên doanh do các công ty vận tải biển nước ngoài được phép thành lập tại thời điểm gia nhập không vượt quá 5. Sau đó, cứ hai năm một sẽ cho phép thêm 3 liên doanh. Sau 5 năm kể từ khi gia nhập, sẽ không hạn chế số lượng liên doanh.

- Thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài kể từ ngày 11/1/2012.

Điều kiện về loại hoạt động:

Doanh nghiệp FDI chỉ được phép cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận tải biển sau:

- Bán và tiếp thị dịch vụ vận tải biển qua giao dịch trực tiếp với khách hàng, từ niêm yết giá tới lập chứng từ;
- Đại diện cho chủ hàng;
- Cung cấp các thông tin kinh doanh theo yêu cầu;
- Chuẩn bị tài liệu liên quan tới chứng từ vận tải bao gồm chứng từ hải quan hoặc các chứng từ khác liên quan đến xuất xứ và đặc tính của hàng vận chuyển;
- Cung cấp dịch vụ vận tải biển bao gồm cả dịch vụ vận tải nội địa bằng tàu mang cờ Việt Nam trong trường hợp cung cấp dịch vụ vận tải tích hợp;
Từ ngày 11/1/2012 các doanh nghiệp này có thể cung cấp thêm các dịch vụ:
- Thay mặt công ty tổ chức cho tàu vào cảng hoặc tiếp nhận hàng khi có yêu cầu;
- Đàm phán và ký hợp đồng vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa liên quan tới hàng hóa do công ty vận chuyển.

Chú ý: Các doanh nghiệp FDI chỉ được thực hiện các dịch vụ liên quan đến vận tải biển này với điều kiện:
- Các dịch vụ đó là nhằm phục vụ cho hàng hóa do chính doanh nghiệp nước ngoài đó vận chuyển; và
- Các dịch vụ này là cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ vận tải tích hợp cho hành khách của họ (trong đó vận tải biển quốc tế là công đoạn chính và do doanh nghiệp nước ngoài đó thực hiện).

Nhà đầu tư nước ngoài có thể cung cấp dịch vụ hàng hải tại Việt Nam dưới các hình thức nào?Use SHIFT+ENTER to open the menu (new window).

ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
Số 2 Phạm Sư Mạnh, Hà Nội, Việt Nam
ĐT: (043) 8262549 - Fax: (043) 9348959
Email:
NCIEC@MOIT.GOV.VN

Cổng thông tin được xây dựng với hỗ trợ của Dự án MUTRAP II do Liên minh châu Âu tài trợ