Skip to main content

Go Search
Trang chủ
Văn kiện cơ bản của WTO
Tiếp cận thị trường
Vòng Doha
WTO - Hỏi và Đáp
Góp ý thông báo
Đăng ký thành viên
English
  
> Nội dung-cam kết-Việt Nam > CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ DOANH NGHIỆP  

Nội dung-cam kết-Việt Nam: CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ DOANH NGHIỆP

Nội dung-cam kết-Việt Nam - CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO VỀ CHÍNH...

CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ DOANH NGHIỆP

1. Chính sách đầu tư/kinh doanh:

            Cho đến nay WTO chưa xây dựng được một khung pháp lý đa phương điều chỉnh toàn diện hoạt động đầu tư nước ngoài tương tự như quy định của 2400 hiệp định song phương về đầu tư và một số hiệp định khu vực được ký kết giữa các nước trong gần 50 năm qua. Do vậy, Việt Nam không có nghĩa vụ phải đưa ra cam kết cụ thể về chính sách đầu tư/kinh doanh mà chỉ tiến hành minh bạch hóa hệ thống chính sách về vấn đề này và thực hiện một số cam kết có liên quan. Các cam kết này được thể hiện rải rác tại một số Đoạn tại Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (sau đây gọi là Báo cáo gia nhập WTO) và Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ.  

            1.2.  Minh bạch hóa các điều kiện đầu tư/kinh doanh:

   Trong Báo cáo gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành minh bạch hóa các điều kiện đầu tư/kinh doanh ở Việt Nam cho tất cả các thành viên có quan tâm. Theo đó, ngoài việc mô tả hiện trạng chính sách, pháp luật liên quan đến hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp, các lĩnh vực khuyến khích, cấm, hạn chế đầu tư/kinh doanh và thủ tục đầu tư/kinh doanh, Việt Nam đã khẳng định một số nguyên tắc chủ yếu đã được áp dụng trên thực tế như sau:          

   - Nhà đầu tư, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm và được quyết định hình thức, địa điểm đầu tư, tỷ lệ góp vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩm... trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.

   - Danh mục lĩnh vực đầu tư/kinh doanh có điều kiện hoặc cấm đầu tư/kinh doanh sẽ được định kỳ rà soát nhằm xác định những quy định còn chồng chéo hay mâu thuẫn để xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ.

   - Việc sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ danh mục các lĩnh vực/ngành nghề cấm đầu tư/kinh doanh hoặc đầu tư/kinh doanh có điều kiện sẽ tuân thủ hoàn toàn các nghĩa vụ của Việt Nam với WTO, kể cả những nghĩa vụ về minh bạch hóa, nghĩa vụ theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) và Biểu cam kết cụ thể của Việt Nam về dịch vụ. Ý kiến của doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức có liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung các Danh mục này trong qúa trình soạn thảo sẽ được công khai hóa phù hợp với Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.

            1.2. Cam kết về điều kiện và thủ tục cấp phép trong các ngành dịch vụ:

   Về nguyên tắc, các cam kết của Việt Nam liên quan đến chế độ cấp phép chỉ áp dụng đối với các ngành /phân ngành dịch vụ đã được liệt kê trong Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam. Mặt khác, chế độ cấp phép được cam kết bao gồm cả điều kiện và thủ tục cấp phép thành lập doanh nghiệp và cấp phép để thực hiện hoạt động kinh doanh trong các ngành /phân ngành dịch vụ yêu cầu phải có giấy phép (theo ngữ cảnh pháp luật Việt Nam, được hiểu là điều kiện, thủ tục cấp Chứng nhận đầu tư và /hoặc Giấy phép kinh doanh). Theo đó, Việt Nam bảo đảm áp dụng các điều kiện và thủ tục cấp phép theo nguyên tắc không tạo ra các rào cản độc lập về tiếp cận thị trường; cụ thể là:

   - Thủ tục và điều kiện cấp phép phải được công bố trước khi có hiệu lực và phải xác định rõ thời hạn để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc cấp phép;

   - Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và quyết định việc cấp phép trong thời hạn đã được xác định nêu trên.

   - Lệ phí xét hồ sơ xin cấp phép không được tạo ra một rào cản độc lập về tiếp cận thị trường;

   - Theo yêu cầu của người nộp hồ sơ xin cấp phép, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo tình trạng hồ sơ và phải cho biết hồ sơ đó đã đầy đủ hay chưa; hồ sơ được coi là đầy đủ khi đã điền đủ các thông tin phải cung cấp theo quy định; nếu có yêu cầu bổ sung thông tin, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo không chậm trễ cho người nộp hồ sơ và phải nêu rõ những thông tin cần bổ sung để hoàn thiện hồ sơ; người nộp hồ sơ phải có cơ hội để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hồ sơ.

   - Trường hợp không được cấp phép, người nộp hồ sơ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thông báo bằng văn bản lý do từ chối cấp phép;

   - Trường hợp hồ sơ cần phê duyệt, người nộp hồ sơ phải được thông báo không chậm trễ bằng văn bản sau khi hồ sơ đó đã được phê duyệt;

   - Khi bị từ chối cấp phép, người nộp hồ sơ có thể nộp hồ sơ mới để sửâ đổi các điều kiện chưa đáp ứng yêu cầu cấp phép đã nêu trong hồ sơ đã nộp trước đó;

   - Trường hợp cần kiểm tra để cấp phép hành nghề, cơ quan có thẩm quyền phải ấn định trong thời hạn hợp lý.   

            1.3. Cam kết về hình thức đầu tư (hiện diện thương mại[1]) và điều kiện góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam

   Tương tự như quy định về điều kiện và thủ tục cấp phép, cam kết về vấn đề này cũng chỉ áp dụng đối với các ngành/phân ngành dịch vụ được liệt kê trong Biểu cam kết về dịch vụ của Việt Nam. Theo đó, trừ khi có quy định khác trong Biểu cam kết, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức: (i) hợp đồng hợp tác kinh doanh; (ii) doanh nghiệp liên doanh; và (iii) doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

   Văn phòng đại diện của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài không được phép kinh doanh thu lợi nhuận.   

   Nhà đầu tư nước ngoài không được phép hiện diện thương mại dưới hình thức chi nhánh, trừ khi có quy định khác trong Biểu cam kết (VD: theo Biểu cam kết, Việt Nam đã cho phép thành lập chi nhánh trong các ngành: ngân hàng, luật, phân phối (đối với dịch vụ nhượng quyền thương mại), chứng khoán, bảo hiểm...). 

   Trừ khi pháp luật Việt Nam có quy định khác hoặc theo sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ không qúa 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp. Sau 01 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, hạn chế nói trên sẽ được loại bỏ, trừ hạn chế đối với ngành ngân hàng và các ngành không được đưa vào Biểu cam kết. Đối với các ngành /phân ngành khác nêu trong Biểu cam kết, tỷ lệ cổ phần nhà đầu tư nước ngoài được phép mua lại của doanh nghiệp Việt Nam phải phù hợp với hạn chế về vốn góp nước ngoài quy định tại Biểu cam kết (nếu có), kể cả những hạn chế về hình thức trong giai đoạn chuyển đổi (nếu có thể áp dụng).

   Cho dù có những hạn chế nêu trong Biểu cam kết, song các điều kiện về sở hữu, hoạt động, hình thức pháp nhân quy định tại Giấy phép đầu tư/Chứng nhận đầu tư hoặc các hình thức khác sẽ không hạn chế hơn các điều kiện áp dụng trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO.

   1.4. Cam kết về điều kiện và phương thức thông qua quyết định của doanh nghiệp:

   Với mục đích bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, các Điều 52 và 104, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã nâng tỷ lệ số phiếu đại diện đủ điều kiện để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên/Đại hội đồng cổ đông đối với một số vấn đề quan trọng nhất từ mức 51% tổng vốn số góp (như quy định của Luật cũ) lên các mức tương ứng 65%-75%. Một số thành viên WTO cho rằng, quy định này đã làm vô hiệu hóa quyền quản lý của Bên nước ngoài tại các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành/phân ngành dịch vụ mà Việt Nam chỉ cam kết cho phép vốn sở hữu nước ngoài ở mức 51%. Trong qúa trình soạn thảo Luật Doanh nghiệp mới, không ít doanh nghiệp cũng cho rằng quy định như vậy thực chất là nhằm duy trì "trá hình" nguyên tắc nhất trí trước đây của Luật Đầu tư nước ngoài.

   Do vậy, tại các đoạn 503 và 504 của Báo cáo gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết cho phép doanh nghiệp tự thoả thuận trong điều lệ các điều kiện và phương phương thức thông qua mọi quyết quyết định của mình, đồng thời bảo đảm để cam kết này có hiệu lực pháp lý ngay trong quá trình phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO. Trên tinh thần đó, tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO, cam kết nêu trên đã được áp dụng trực tiếp để thay thế các quy định tương ứng về vấn đề này tại Luật Doanh nghiệp năm 2005. Cụ thể, công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ các vấn đề sau:

   - Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

   - Các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

   - Tỷ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông.

   Mặc dù cam kết của Việt Nam với WTO về vấn đề này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN hoạt động trong ngành/phân ngành dịch vụ quy định tại Biểu cam kết về dịch vụ, song các quy định nêu trên tại Nghị quyết số 76/2006/QH11 đã mở rộng phạm vi áp dụng cam kết đối với cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn ĐTNN hoạt động trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề.

            2. Cam kết về quyền kinh doanh

            Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, kinh doanh được hiểu với phạm vi khá rộng. Đó là việc "thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi". Như vậy, khái niệm nêu trên bao quát toàn bộ qúa trình đầu tư, sản xuất, hoạt động thương mại hay cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong phạm vi WTO, quyền kinh doanh chỉ được hiểu là quyền hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp nước ngoài/doanh nghiệp có vốn ĐTNN và không đồng nhất với quyền của các doanh nghiệp đó trong việc phân phối  các sản phẩm nhập khẩu hay hàng hóa trong nước (được điều chỉnh trong phạm vi cam kết của Việt Nam về dịch vụ phân phối).         

            Trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động xuất, nhập khẩu và mua bán hàng hóa của doang nghiệp nước ngoài/doanh nghiệp có vốn ĐTNN được điều chỉnh theo quy định riêng. Trên thực tế, mặc dù các quy  định về vấn đề này đã liên tục được cải thiện theo hướng ngày càng thuận lợi, song nhìn chung các doanh nghiệp nước ngoài/doanh nghiệp có vốn ĐTNN vẫn không được đối xử bình đẳng như doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động xuất, nhập khẩu và mua bán hàng hóa (VD: doanh nghiệp có vốn ĐTNN chỉ được phép nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho hoạt động của dự án đầu tư đã được cấp phép và chỉ được phân phối các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất...). Việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh siêu thị để thực hiện hoạt động bán buôn, bán lẻ mới chỉ được xem xét thí điểm trong từng trường hợp cụ thể. Do vậy, cho đến thời điểm trước khi Việt Nam gia nhập WTO, chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể quyền nhập khẩu, phân phối trong nước của nhà đầu tư nước ngoài/doanh nghiệp có vốn ĐTNN mặc dù việc ban hành văn bản về vấn đề này đã được quy định tại Nghị định 27/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư nước ngoài trước đây.        

 Mặt khác, đây cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều thành viên WTO và trên thực tế Việt Nam đã có một số cam kết tương tự về vấn đề này trong khuôn khổ Hiệp định hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ. Do vậy, đối với WTO, Việt Nam đã cam kết: kể từ ngày 11/1/2007, mọi doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài đều được quyền xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa như doanh nghiệp, cá nhân Việt Nam, trừ một số mặt hàng chỉ được nhập khẩu thông qua doanh nghiệp thương mại do Nhà nước chỉ định (như xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo, tạp chí) và một số mặt hàng nhạy cảm khác chỉ được phép nhập khẩu sau một thời gian nhất định (như gạo và dược phẩm).

Nhằm nội luật hóa cam kết về vấn đề này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Ngoài ra, theo cam kết của Việt Nam với WTO, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài không thành lập pháp nhân tại Việt Nam cũng được quyền đăng ký hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam với tư cách là nhà nhập khẩu đứng tên (importer of record).

            3. Cam kết về doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thương mại nhà nước:

Không một quy định nào trong các Hiệp định của WTO ngăn cản các thành viên thành lập và phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nói chung cũng như doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng, song đặt ra 2 điều kiện cơ bản đối với hoạt động của doanh nghiệp thương mại nhà nước là: (i) kinh doanh theo các tiêu chí thương mại, trên cơ sở không phân biệt đối xử; và (ii) minh bạch trong hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa.

Bên cạnh đó, trong qúa trình đàm phán song phương, Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam thực hiện một số cam kết cụ thể hơn đối với DNNN nhằm đảm bảo để các doanh nghiệp này hoạt động theo các tiêu chí quy định tại Mục 1106 của Bộ Luật cạnh tranh và thương mại (Omnibus) năm 1988. Yêu cầu này về cơ bản không có sự khác biệt với quy định tại Điều XVII của GATT về doanh nghiệp thương mại nhà nước, nhưng có đối tượng và phạm vi điều chỉnh rộng hơn (không chỉ bao gồm DNNN kinh doanh xuất nhập khẩu mà còn gồm cả các công ty do nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát tham gia vào hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ).

            Các yêu cầu nói trên của Hoa Kỳ hoàn toàn không phải là một biệt lệ áp dụng riêng đối với Việt Nam mà đã được đặt ra đối với Trung Quốc, một số nước có nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu và cả vùng lãnh thổ được coi là có nền kinh tế thị trường (như Đài Loan). Trên thực tế, các nước và vùng lãnh thổ nói trên đều đã chấp nhận cam kết như một điều kiện để Hoa Kỳ áp dụng các nghĩa vụ của WTO đối với nước gia nhập Tổ chức này.

            Đối với Việt Nam, cải cách, sắp xếp lại và nâng cao hiệu qủa hoạt động của DNNN nói chung cũng như hệ thống các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng luôn là một chủ trương nhất quán được hình thành và phát triển không tách rời với tiến trình đổi mới, hội nhập của Việt Nam trong suốt 20 năm qua. Chủ trương đó đã liên tục được khẳng định trong Nghị quyết của tất cả các kỳ Đại hội như là một trong các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, đây cũng không phải là lần đầu tiên chúng ta đàm phán thực hiện cam kết theo yêu cầu nói trên của WTO nói chung và Hoa Kỳ nói riêng. Trong khuôn khổ Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực từ tháng 12/2001, Việt Nam không chỉ cam kết tuân thủ hầu hết các nghĩa vụ theo yêu cầu tại Mục 1106 nói trên mà còn bảo đảm để các DNNN dành đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc liên quan đến việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ (tức là yêu cầu DNNN phải bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở không phân biệt đối xử cho mọi đối tượng trong nước và nước ngoài).

Căn cứ chính sách, pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế liên quan và có tính đến cam kết của một số nước mới gia nhập (như Trung Quốc, một số nước Đông Âu), Việt Nam đã thực hiện việc minh bạch hóa chính sách phát triển DNNN, đồng thời đưa ra một số cam kết theo quy định tại Điều XVII của GATT cũng như các yêu cầu của Hoa Kỳ về vấn đề này; cụ thể là:

 - Về cam kết cụ thể đối với doanh nghiệp nhà nước nói chung: Việt Nam sẽ thực hiện các yêu cầu cơ bản sau: (i) đảm bảo để DNNN hoạt động theo các tiêu chí thương mại; (ii) Nhà nước không can thiệp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào các quyết định thương mại của các doanh nghiệp này, trừ khi phù hợp với các Hiệp định của WTO; (iii) đảm bảo để các doanh nghiệp của các thành viên WTO có cơ hội đầy đủ trong việc cạnh tranh bán hàng và mua bán từ các DNNN theo các điều kiện không phân biệt đối xử; và (iv) không coi luật pháp, quy định liên quan đến hoạt động mua, bán hàng hóa, dịch vụ của DNNN vì mục đích thương mại và không do chính phủ sử dụng, là luật pháp, quy định về mua sắm chính phủ.

            - Liên quan đến doanh nghiệp thương mại nhà nước: Việt Nam đã cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nêu tại Điều XVII, GATT (tức là đảm bảo để doanh nghiệp thương mại nhà nước kinh doanh theo các tiêu chí thương mại, trên cơ sở nguyên tắc chung về không phân biệt đối xử và đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp này).

            Như vậy, theo các cam kết nói trên, Nhà nước với tư cách là một cổ đông hoặc thành viên góp vốn trong một doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước sẽ có quyền tham gia quản lý, điều hành và quyết định mọi vấn đề của doanh nghiệp một cách bình đẳng như quyền các cổ đông hoặc thành viên góp vốn khác của doanh nghiệp.

Ngoài ra, Việt Nam không phải đưa ra Danh mục các lĩnh vực, ngành nghề không cho phép khu vực tư nhân tham gia theo yêu cầu có tính ràng buộc rất cao của Hoa Kỳ mà chỉ công bố Danh mục phân loại các lĩnh vực, ngành nghề đã được quy định tại Quyết định 155/2004/QĐ-TTg ngày 20/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí, phân loại DNNN.

            Liên quan đến hoạt động sản xuất, cung ứng sản phẩm và dịch vụ công ích, Việt Nam đã khẳng định: khu vực tư nhân, kể cả tư nhân nước ngoài cũng được phép tham gia sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ này dưới hình thức đấu thầu hoặc được Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch (đối với sản phẩm, dịch vụ công ích liên quan đến an ninh, quốc phòng). Việc khẳng định nguyên tắc này đã đảm bảo phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước  về việc xã hội hóa các hoạt động sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của các cơ quan chính phủ cũng như toàn xã hội. Trên thực tế, nguyên tắc này cũng đã được thể chế hóa trong Nghị định 31/2005/NĐ-CP ngày 31/8/2005 của Chính phủ về sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.   

            Đối chiếu với hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành, có thể khẳng định việc thực hiện các cam kết nói trên là yêu cầu tất yếu, khách quan mà dù cam kết với WTO có đặt ra hay không chúng ta vẫn cần phải thực hiện nhằm đổi mới, nâng cao hiệu qủa hoạt động của DNNN, đồng thời đảm bảo để các doanh nghiệp này hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Thực tế cũng cho thấy, ngay trong qúa trình đàm phán thực hiện cam kết về vấn đề này, hệ thống pháp luật về DNNN đã liên tục được hoàn thiện một cách tích cực, chủ động theo hướng đáp ứng hầu hết các yêu cầu thực hiện cam kết nói trên. Do vậy, việc thực hiện cam kết trong thời gian tới về cơ bản không đòi hỏi phải điều chỉnh Luật Doanh nghiệp nhà nước.  

            4. Cam kết về minh bạch hóa chương trình cổ phần hóa :

            Tương tự như việc thành lập và duy trì DNNN, không một Hiệp định nào của WTO đặt ra nghĩa vụ cụ thể yêu cầu các thành viên phải thực hiện chương trình cổ phần hóa (hay tư nhân hóa theo cách gọi của một số thành viên Ban Công tác).  Tuy nhiên, minh bạch hóa chính sách liên quan đến vấn đề này là yêu cầu đặc thù đặt ra đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu và Trung Quốc. Với lý do đó và xét tính đặc thù của qúa trình cải cách kinh tế, hầu hết các nước mới gia nhập WTO, đặc biệt là các nước thuộc khối XHCN trước đây, đều phải cam kết thực hiện nghĩa vụ báo cáo hàng năm về các vấn đề này. 

Đối với Việt Nam, thực hiện chương trình cổ phần hóa là một trong những giải pháp quan trọng nhằm cải cách, sắp xếp lại và nâng cao hiệu qủa hoạt động của DNNN. Thực hiện chủ trương đó, trong Báo cáo gia nhập WTO, Việt Nam đã khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế tư nhân nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng được khuyến khích phát triển lâu dài và cạnh tranh bình đẳng với các thành phần khác. Đồng thời, Việt Nam đã công bố công khai kết qủa thực hiện chương trình này trong từng giai đoạn cũng như số lượng, cơ cấu các loại hình doanh nghiệp sau mỗi giai đoạn thực hiện chương trình cổ phần hóa và tiến hành minh bạch hóa các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến khái niệm, phạm vi, thủ tục cổ phần hóa; các lĩnh vực và tỷ lệ tham gia cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp cổ phần hóa; cơ chế định giá, bán cổ phần, bổ nhiệm cán bộ quản lý của DNNN thực hiện cổ phần hóa; vai trò của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN cũng như cơ chế tổ chức, hoạt động của loại hình doanh nghiệp này sau khi thực hiện cổ phần hóa...

            Đồng thời với việc mô tả hiện trạng chính sách và quy định cụ thể về cổ phần hóa, Việt Nam đã cam kết đảm bảo minh bạch hóa toàn bộ chương trình cổ phần hóa đang thực hiện. Theo đó, từ thời điểm gia nhập WTO và trong thời gian chương trình này vẫn còn được thực hiện, Việt Nam sẽ cung cấp cho các thành viên WTO báo cáo hàng năm về chương trình cổ phần hóa cũng như những cải cách có liên quan.  

            Việc thực hiện cam kết nói trên hoàn toàn không phải là biệt lệ đối với Việt Nam vì trên thực tế, Báo cáo về tình hình phát triển kinh tế -xã hội nói chung và về tiến trình cải cách DNNN nói riêng luôn được các cơ quan chính phủ thực hiện hàng năm và công bố công khai cho tổ chức, cá nhân trong cũng như ngoài nước. Bên cạch đó, hầu hết các tổ chức phát triển, định chế tài chính, ngân hàng quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam (như UNDP, WB, IMF, ADB, IFC...) đều thực hiện các báo cáo độc lập của họ về vấn đề này. Do vậy, việc thực hiện cam kết nói trên không đòi hỏi phải điều chỉnh pháp luật hiện hành.

            5. Cam kết theo Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại  (TRIMs):

Hiệp định TRIMs không báo quát đầy đủ các yếu tố của một Hiệp định đầu tư quốc tế mà chỉ là cơ chế pháp lý điều chỉnh các biện pháp đầu tư có tác động đến hoạt động thương mại hàng hóa và các hoạt động có liên quan của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, Hiệp định không quy định cụ thể khái niệm thế nào là một biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại mà chỉ đưa ra Danh mục minh họa một số biện pháp đầu tư không phù hợp với nghĩa vụ dành đối xử quốc gia (Điều III) và loại bỏ hạn chế về định lượng (Điều XI) của GATT 1994. Theo đó, tất cả các biện pháp được mô tả trong Danh mục minh họa, cho dù được áp dụng như là điều kiện để thành lập, mở rộng doanh nghiệp hay là điều kiện để doanh nghiệp đó hưởng ưu đãi đầu tư đều không được phép áp dụng. Các biện pháp này có thể bao gồm: yêu cầu doanh nghiệp thực hiện chương trình nội địa hóa, đầu tư gắn với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, cân đối ngoại tệ, cân đối xuất-nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu... Yêu cầu xuất khẩu bắt buộc không được liệt kê trong Danh mục minh họa nhưng theo quan điểm của một số nước vẫn bị coi là biện pháp không phù hợp với Hiệp định TRIMs do vi phạm quy định tại Điều III và Điều XI của GATT.

Theo quy định của Hiệp định, tính từ ngày thành lập WTO (1/1/1995), các biện pháp nói trên phải được loại bỏ trong vòng 2 năm đối với thành viên phát triển, 5 năm đối với thành viên đang phát triển và 7 năm đối với thành viên chậm phát triển. Thời hạn này được áp dụng đối với các thành viên sáng lập WTO; các nước chưa phải là thành viên có thể thỏa thuận thời gian qúa độ trên cơ sở đàm phán song phương. Đến nay, các thành viên mới gia nhập WTO từ sau năm 1995 đã cam kết thực hiện Hiệp định mà không yêu cầu bất kỳ ngoại lệ nào hoặc chỉ bảo lưu ở mức độ tối thiểu. Hơn thế nữa, Trung Quốc đã cam kết thực hiện Hiệp định TRIMs với phạm vi khá rộng, gồm cả việc xóa bỏ điều kiện chuyển giao công nghệ và yêu cầu bắt buộc về xuất khẩu đối với một số sản phẩm công nghiệp để cho phép doanh nghiệp tự thỏa thuận về loại hình và trình độ công nghệ, được quyết định thị trường tiêu thụ sản phẩm mà không có sự can thiệp của Chính phủ...

            Đối với Việt Nam, việc đàm phán thực hiện các nghĩa vụ theo Hiệp định TRIMs hoàn toàn không phải là một điều mới mẻ. Theo Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực từ tháng 12/2001, trừ 2 yêu cầu phải thực hiện ngay tại thời điểm nói trên (xóa bỏ yêu cầu cân đối xuất-nhập khẩu và cân đối ngoại tệ), Việt Nam đã cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo Hiệp định TRIMs vào thời điểm chậm nhất cho đến khi Việt Nam gia nhập WTO (gồm việc xóa bỏ yêu cầu xuất khẩu, nội địa hóa, phát triển nguồn nguyên liệu trong nước). Trong gần 05 năm thực hiện BTA,  hệ thống pháp luật Việt Nam đã liên tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng hầu hết các nghĩa vụ theo BTA. Đặc biệt, Luật Đầu tư có hiệu lực từ 1/7/2006 đã nội luật hóa đầy đủ các cam kết của Việt Nam bằng việc loại bỏ toàn bộ các biện pháp TRIMs được áp dụng như những điều kiện bắt buộc để cấp phép đầu tư, nhưng cũng là điều kiện để cấp ưu đãi đầu tư (bao gồm các yêu cầu   bắt buộc xuất khẩu, sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước cũng như các ưu đãi đầu tư gắn với việc thực hiện các yêu cầu này).

Từ thực tế đó, Việt Nam đã cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Hiệp định TRIMs ngay tại thời điểm gia nhập mà không yêu cầu thời gian qúa độ. Theo đó, Việt Nam sẽ không áp dụng các yêu cầu sau đây như là điều kiện để cấp phép đầu tư hay là điều kiện để cấp ưu đãi đầu tư, gồm:

- Yêu cầu bắt buộc xuất khẩu đối với một số sản phẩm công nghiệp.

            - Yêu cầu bắt buộc về thực hiện chương trình nội địa hóa đối với dự án sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy, và các mặt hàng cơ khí, điện,  điện tử.

            - Yêu cầu bắt buộc đầu tư gắn với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước đối với  dự án đầu tư nước ngoài  chế biến các sản phẩm: sữa, dầu thực vật, mía đường,  gỗ.

            - Các ưu đãi về thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hóa đối với  các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp hàng cơ khí, điện, điện tử và phụ tùng ô tô.

             Ngoài ra, Việt Nam cũng cam kết không tái áp dụng các yêu cầu nói trên và các biện pháp khác trái với quy định của Hiệp định TRIMs.

Việc thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Hiệp định TRIMs góp phần xóa bỏ các rào cản đối với ĐTNN, nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam trong thu hút nguồn này, đặc biệt là đầu tư trong các ngành trước nay vẫn phải thực hiện các yêu cầu nói trên (như công nghiệp lắp ráp, sản xuất ô tô, xe máy, hàng điện tử, chế biến đường mía, dầu thực vật, sữa, gỗ...). Mặt khác, việc xóa bỏ những yêu cầu về cân đối thương mại và cân đối ngoại tệ cũng tạo điều kiện để thu hút ĐTNN vào các ngành sản xuất, chế biến các sản phẩm có lợi thế xuất khẩu của Việt Nam. Ngoài ra, việc thực hiện Hiệp định này cũng không đòi hỏi phải điều chỉnh phải Luật Đầu tư cũng như các Luật có liên quan.

            Tuy nhiên, để duy trì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và thu hút ĐTNN trong điều kiện phải loại bỏ những yêu cầu nói trên, cần xem xét điều chỉnh một số văn bản dưới Luật theo hướng áp dụng một số biện pháp đầu tư mới thay thế các biện pháp đã bị loại bỏ nhằm tiếp tục khuyến khích xuất khẩu, thực hiện chương trình nội địa hóa, phát triển nguồn nguyên liệu trong nước theo nguyên tắc đảm bảo mục tiêu phát triển, nhưng vẫn phù hợp với quy định của WTO. Những biện pháp có thể áp dụng gồm: thay thế yêu cầu xuất  khẩu bắt buộc bằng các tiêu chí khác (như: sử dụng lao động, địa bàn đầu tư...);  khuyến khích các dự án đầu tư phát triển ngành công nghiệp phụ trợ nhằm tạo điều kiện thực hiện chương trình nội địa hóa các sản phẩm ô tô, xe máy, điện, điện tử; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và vùng nguyên liệu tập trung ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn nhằm hỗ trợ nguyên liệu cho các dự án nuôi trồng, chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp; áp dụng các biện khác, kể các tiêu chuẩn kỹ thuật được WTO cho phép để yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện thực hiện chương trình nội địa hóa, phát triển nguồn nguyên liệu trong nước...

            6. Cam kết về trợ cấp công nghiệp dưới hình thức ưu đãi đầu tư:

            Theo quy định tại Điều 3.1, Hiệp định của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM), các biện pháp trợ cấp/hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả các ưu đãi đầu tư) nhằm khuyến khích xuất khẩu và sử dụng hàng hóa, nguyên liệu trong nước đều không được phép áp dụng.

            Trong thời gian qua, để góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến trong nước, pháp luật Việt Nam không chỉ yêu cầu thực hiện chương trình nội địa hóa, phát triển nguồn nguyên liệu trong nước hoặc bắt buộc xuất khẩu đối với một số dự án nhất định như một trong điều kiện để cấp giấy phép đầu tư, mà còn quy định nhiều hình thức ưu đãi đầu tư khác nhau căn cứ vào mức độ đáp ứng các yêu cầu nói trên như:  ưu đãi liên quan đến việc sử dụng đất đai,  ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về thuế nhập khẩu, ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước...

            Theo quy định của Hiệp định SCM, Việt Nam đã cam kết: Kể từ ngày 11/1/2007, không áp dụng bất kỳ chương trình trợ cấp mới nào bị cấm theo quy định Hiệp định của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (gồm các trợ cấp trực tiếp hay gián tiếp nhằm khuyến khích xuất khẩu hoặc sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu...). Tuy nhiên, Việt Nam sẽ tiếp tục áp dụng trong thời hạn 05 năm kể từ thời điểm gia nhập WTO các trợ cấp xuất khẩu dưới hình thức ưu đãi đầu tư đã cấp cho các dự án đầu tư trước thời điểm gia nhập WTO (trừ trợ cấp xuất khẩu đối với ngành dệt may).

            Trên thực tế, Luật Đầu tư năm 2005 đã bãi bỏ các loại trợ cấp xuất khẩu không được phép áp dụng theo quy định của Hiệp định SCM. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã chuyển Quỹ Hỗ trợ phát triển thành Ngân hàng Phát triển, điều chỉnh lại mục tiêu và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu, chuyển các loại trợ cấp không được phép áp dụng theo quy định của WTO sang các hình thức khác được áp dụng phổ biến trên thế giới và được WTO thừa nhận. Do vậy, vấn đề còn lại hiện nay là phải rà soát, điều chỉnh một số quy định tại các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và một số quy định có liên quan đến ưu đãi về thuế, sử dụng đất, tín dụng...Mặt khác, cần nghiên cứu áp dụng một số biện pháp ưu đãi/hỗ trợ đầu tư khác ®Ó thay thÕ c¸c hình thức trî cÊp xuất khẩu ®· cam kÕt lo¹i bá theo quy định của Hiệp định SCM. Các biện pháp có thể áp dụng gồm: hç trî nghiªn cøu - ph¸t triÓn; më réng ­u ®·i cho doanh nghiÖp nhµ n­íc thùc hiÖn ch­¬ng tr×nh cæ phÇn hãa; hç trî ®µo t¹o vµ cung øng nguån nh©n lùc; ¸p dông thñ tôc ®Çu t­ ®¬n gi¶n; hç trî ®Òn bï, gi¶i phãng mÆt b»ng vµ t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi cho viÖc sö dông h¹ tÇng vµ c¸c dÞch vô c«ng céng...      

            7. Cam kết về hoạt động của các khu thương mại tự do và đặc khu kinh tế:

            Không một Hiệp định nào của WTO quy định các nghĩa vụ cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, theo các nguyên tắc chung của WTO, việc thành lập và hoạt động của các khu kinh tế (như khu chế xuất, khu kinh tế mở, khu kinh tế cửa khẩu, khu thương mại tự do, khu công nghiệp, khu công nghệ cao v.v.) với các chế độ ưu đãi riêng biệt dành cho các doanh nghiệp hoạt động trong các khu này có thể làm "méo mó" hoặc phá vỡ tính thống nhất trong chính sách thương mại, thuế quan và thuế nội địa của một nước.

            Do vậy, Việt Nam đã cam kết áp dụng các quy định về thành lập và hoạt động của các khu kinh tế phù hợp với nguyên tắc của WTO cũng như các cam kết về trợ cấp công nghiệp, thuế nội địa và các quy định khác; cụ thể là:

            - Không áp đặt điều kiện bắt buộc xuất khẩu hay nội địa hóa đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các khu kinh tế, kể cả KCX.

            - Áp dụng thủ tục hải quan và các ưu đãi thuế đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu từ các khu này như quy định đối với hàng hóa nhập khẩu vào khu vực khác (ngoài các khu này) trên lãnh thổ Việt Nam.

             Việc loại bỏ trợ cấp bị cấm đối với dự án đầu tư vào các khu này cũng được thực hiện như cam kết về trợ cấp công nghiệp đã trình bày tại mục 6 nói trên. Theo đó, các doanh nghiệp hoạt động tại các khu này có thể được hưởng ưu đãi đầu tư mà không gắn với điều kiện phải xuất khẩu hay sử dụng nguyên liệu, hàng hóa trong nước.

8. Mua sắm chính phủ và mua bán máy bay dân dụng:

            Các quy tắc của GATT trư­ớc đây cũng như­ Hiệp định về mua sắm chính phủ đều đặt ra nghĩa vụ của các thành viên trong việc đảm bảo không phân biệt đối xử đối với các sản phẩm và nhà cung cấp nư­ớc ngoài. Đặc biệt, Hiệp định không cho phép sử dụng các tiêu chí xét thầu với mục đích khuyến khích phát triển trong n­ước hoặc cải thiện cán cân thanh toán bằng các biện pháp như­: sử dụng hàm lư­ợng nội địa, cấp phép chuyển giao công nghệ, các yêu cầu về đầu tư hoặc các yêu cầu tư­ơng tự khác…

            Hiệp định về mua sắm chính phủ và Hiệp định về mua bán máy bay dân dụng chỉ là các Hiệp định nhiều bên, không bắt buộc các Thành viên WTO phải tham gia. Vì vậy, Việt Nam không đưa ra bất kỳ cam kết nào về việc gia nhập các Hiệp định này mà chỉ cam kết xem xét trở thành quan sát viên của Ủy ban về mua sắm chính phủ. 


 

ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
Số 2 Phạm Sư Mạnh, Hà Nội, Việt Nam
ĐT: (043) 8262549 - Fax: (043) 9348959
Email:
NCIEC@MOIT.GOV.VN

Cổng thông tin được xây dựng với hỗ trợ của Dự án MUTRAP II do Liên minh châu Âu tài trợ