Skip to main content

Go Search
Trang chủ
Văn kiện cơ bản của WTO
Tiếp cận thị trường
Vòng Doha
WTO - Hỏi và Đáp
Góp ý thông báo
Đăng ký thành viên
English
  
> Nội dung-cam kết-Việt Nam > TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC CAM KẾT CHÍNH  

Nội dung-cam kết-Việt Nam: TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC CAM KẾT CHÍNH

Nội dung-cam kết-Việt Nam - TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO...

TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC CAM KẾT CHÍNH

PHẦN 1. TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH VIỆT NAM ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO

 

I. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ ĐỂ ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn

WTO ra đời năm 1995, là sự kế thừa của Hiệp định GATT. GATT ra đời từ năm 1947 chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề thuế quan để thương mại toàn cầu phát triển. GATT đã trải qua 8 vòng đàm phán để giảm thuế. Tuy nhiên, thương mại thế giới đã phát triển nhanh chóng sang nhiều lĩnh vực như dịch vụ liên quan đến thương mại, đầu tư liên quan đến thương mại, sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và vấn đề tranh chấp thương mại ngày càng tăng. Bản thân khuôn khổ của GATT không đáp ứng được yêu cầu mới này. Chính vì thế các thành viên của GATT đã đi đến nhất trí thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới trên cơ sở kế thừa các thành quả của GATT và mở rộng cho phù hợp với yêu cầu phát triển mới của thương mại thế giới, bao gồm cả 4 lĩnh vực: thương mại hàng hoá (thuế), dịch vụ liên quan đến thương mại, đầu tư liên quan đến thương mại và sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại.

Khi thành lập WTO mới có 112 thành viên, đến nay đã tăng lên 151 thành viên. Cả thế giới có trên 40 tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, trong đó WTO là tổ chức kinh tế toàn cầu lớn nhất. Ngoài 151 thành viên chính thức, WTO còn có 30 đối tác đang đàm phán gia nhập. Như vậy, tổng số thành viên chính thức và quan sát viên WTO lên tới 181 nước và vùng lãnh thổ, gần bằng số thành viên của Liên hiệp quốc (Liên hiệp quốc có 192 thành viên). Đứng về mặt thương mại, WTO chiếm 90% thương mại dịch vụ và 85% thương mại hàng hoá của thế giới.

Chúng ta thấy rằng gia nhập WTO là một xu hướng toàn cầu. Tính đến đầu năm 2006, trong ASEAN chỉ còn Việt Nam và Lào vẫn chưa là thành viên WTO. Sau ngày 11/1/2007, chỉ còn lại Lào chưa là thành viên. Trong APEC chỉ còn Nga chưa phải thành viên. Cu ba và Myanmar là thành viên từ GATT chuyển sang nên mặc dù bị Mỹ bao vây cấm vận nhưng vẫn phải chấp nhận là thành viên WTO. Việt Nam chúng ta không thể đứng ngoài cuộc chơi này được.

Gia nhập WTO là tiếp tục thực hiện tư tưởng vĩ đại mà Bác Hồ đã nêu ra từ lời kêu gọi gửi Liên hiệp quốc tháng 12 năm 1946: "Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a/ Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ thuật của mình.

b/ Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

c/ Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hiệp quốc."

Tư tưởng đó được cụ thể trong đường lối nêu trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX là "Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và bảo đảm thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA, APEC, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, tiến tới gia nhập WTO."

Để cụ thể hoá đường lối Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Bộ Chính trị đã có nghị quyết 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tế trong đó nhấn mạnh "tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) theo các phương án và lộ trình hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh nước ta... gắn kết quá trình đàm phán với quá trình đổi mới mọi mặt hoạt động kinh tế ở trong nước".

2. Quá trình chuẩn bị đàm phán gia nhập WTO

Sau khi đã được Bộ Chính trị và Trung ương thông qua chủ trương đàm phán để gia nhập WTO, công việc đầu tiên là phải thành lập Đoàn đàm phán cấp Chính phủ. Vì đây là lĩnh vực phức tạp, liên quan đến nhiều bộ ngành nên thành phần của Đoàn đàm phán Chính phủ bao gồm các bộ kinh tế tổng hợp như Thương mại, Kế hoạch Đầu tư, Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Chính phủ, các bộ kinh tế như Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công nghiệp, Khoa học và Công nghệ, Văn hoá thông tin, Môi trường. Sau này do yêu cầu công tác đàm phán, Chính phủ đã quyết định mở rộng thành phần ra cả Ban kinh tế Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Văn phòng Quốc hội.

Ngoài việc thành lập đoàn đàm phán, năm 2000, Thủ tướng đã quyết định thành lập tổ hỗ trợ kỹ thuật để nghiên cứu sâu về các quy định của WTO, những điều kiện WTO dành cho các nước đang phát triển, cam kết của các nước mới gia nhập như Trung Quốc, các nước Đông Âu...

Sau khi Đoàn đàm phán được thành lập, chúng ta phải chuẩn bị phương án đàm phán. Việc đầu tiên là phải có bản bị vong lục tường trình về chính sách kinh tế - thương mại của Việt Nam. Chúng ta phải thực hiện tiến trình minh bạch hoá tất cả các chính sách kinh tế - thương mại của Việt Nam. Trong 5 năm đầu chúng ta chỉ tập trung vào làm việc này. Từ phiên đa phương đầu tiên đến phiên thứ 4, các nước chỉ hỏi và yêu cầu Việt Nam trả lời về các chính sách và các quy định của pháp luật Việt Nam. Mục đích của họ là xem các chính sách và hệ thống pháp luật có phù hợp với các nguyên tắc và hiệp định của WTO hay không.

Tiếp đó chúng ta phải chuẩn bị một bản chào hàng hoá về mức cắt giảm thuế nhập khẩu và bản chào về dịch vụ. Việc đưa ra bản chào đầu tiên (initial offer) là công việc chuẩn bị hết sức khó khăn vì quan điểm của các bộ, ngành khác nhau. Ngành sản xuất nào cũng muốn bảo vệ quyền lợi của mình. Chào thấp sợ hớ, chào cao thì họ không đàm phán. Ta đưa ra bản chào đầu với mức thuế trung bình trên 28%, sau đó rút xuống gần 25%, rồi 22% mà vẫn bị từ chối. Đến bản chào thứ 4, mức thuế trung bình là 18,7% (mức thuế hiện hành là 17,4%). Dịch vụ ta chào 10 ngành và 92 phân ngành trên 12 ngành và 155 phân ngành của WTO. Lúc đó các nước mới chấp nhận đàm phán song phương về hàng hoá và dịch vụ.

 

II. QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO

1. Các bước đi cơ bản

-          Tháng 6/1994: Việt Nam được công nhận là quan sát viên của GATT.

-          Ngày 4/1/1995: WTO tiếp nhận đơn xin gia nhập của Việt Nam.

-          Ngày 30/1/1995: Ban Công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam được thành lập.

-          Ngày 26/8/1996 : Việt Nam nộp bản Bị vong lục về Chế độ Ngoại thương.

-          Từ 7/1998 đến 7/2006 : Việt Nam tiến hành đàm phán đa phương về thực hiện các Hiệp định của WTO và đàm phán song phương về mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ.

-          Ngày 7/11/2006, Việt Nam được kết nạp vào WTO

-          Ngày 11/1/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 151 của WTO

Việt Nam đã đàm phán 11 năm với hơn 200 phiên đàm phán, trong đó đàm phán đa phương 14 phiên, đàm phán song phương với 28 đối tác (đối tác nhanh nhất: 3 phiên, đối tác chậm nhất: 13 phiên). Ðây là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử đàm phán thương mại Việt Nam từ trước tới nay (đàm phán Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ chúng ta mất 4 năm). Sở dĩ chúng ta đàm phán dài như thế vì nhiều yếu tố khách quan và chủ quan.

2. Quá trình đàm phán

Đàm phán gia nhập WTO được tiến hành theo hai phương thức song song với nhau và bổ sung cho nhau là đàm phán đa phương và đàm phán song phương.

            Đàm phán đa phương được thực hiện tại các phiên họp của Ban Công tác về việc gia nhập WTO. Trong khuôn khổ đàm phán đa phương, các nước khẳng định quan điểm của mình, đàm phán các cam kết có giá trị áp dụng chung và tổng kết các thành quả của các cuộc đàm phán song phương. Đàm phán đa phương nhằm minh bạch hóa các chính sách và đi đến cam kết các chính sách kinh tế vĩ mô.

            Đàm phán song phương được tiến hành trước hoặc ngay sau các phiên họp đa phương. Đàm phán song phương nhằm đi đến các thoả thuận về mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ. Nước xin gia nhập chỉ được kết nạp sau khi đã đạt được thoả thuận tại tất cả các cuộc đàm phán song phương.

Qua 14 phiên đàm phán đa phương, về cơ bản Việt Nam chấp nhận thực hiện đầy đủ các hiệp định của WTO khi chúng ta gia nhập. Chúng ta bỏ các biện pháp trợ cấp không đúng với quy định của WTO: trợ cấp liên quan tỷ lệ xuất khẩu; tỷ lệ nội địa hóa, trợ cấp trực tiếp về xuất khẩu... Các trợ cấp mà WTO cho phép chúng ta vẫn thực hiện: trợ cấp liên quan xúc tiến thương mại; đầu tư, du lịch, nâng cao chất lượng hàng hóa, cước phí vận tải,... Một vấn đề quan trọng của vòng đàm phán Doha đó là vấn đề trợ cấp hàng nông sản. Vấn đề này liên quan trực tiếp đến các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Việt Nam là nước rất đặc biệt, đất chật, người đông. Khi đàm phán với Úc thì thấy một hộ của họ có đến 200 ha còn ở Việt Nam bình quân diện tích canh tác trên nhân khẩu nông nghiệp là 1400m2[1]. Nhưng Việt Nam lại có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu được xếp hạng trên thế giới: gạo (có lúc xếp thứ 2, có lúc thứ 3 thế giới), cà phê (đứng thứ 2 thế giới), tiêu (số 1 thế giới), điều (số 1 thế giới), chè (sản lượng đứng thứ 8 thế giới). Ðây là trường hợp  rất đặc biệt của thế giới. Chính vì vậy mà trong đàm phán song phương đã có nhiều nước Mỹ la-tinh yêu cầu đàm phán với Việt Nam. Họ cho rằng, Việt Nam có mặt hàng nông sản tràn ngập thị trường thế giới, làm cho các nước Mỹ la-tinh gặp khó khăn, nhất là cà phê. Trước đây, giá cà phê rất cao, có thời điểm chỉ còn hơn 1.000 USD/tấn, trong đó có sự tham gia của Việt Nam và nhiều nước khác. Nông nghiệp Việt Nam tuy canh tác lạc hậu nhưng lại xuất khẩu được nhiều. Xu hướng tất cả các nước vừa gia nhập WTO đều phải bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản. Chúng ta cũng phải chấp nhận xu hướng này. Nhưng Việt Nam được phép hỗ trợ trong nước ở mức 10%. Trung Quốc chỉ được phép hỗ trợ trong nước ở mức 8,5% vì Trung Quốc phát triển hơn Việt Nam. Thực tế lâu nay chúng ta chỉ hỗ trợ ở mức khoảng 3%. Chúng ta bỏ trợ cấp xuất khẩu, nhưng chúng ta chuyển trợ cấp trực tiếp vào cho người nông dân, người sản xuất và chế biến nông sản, không trợ cấp vào xuất khẩu nữa. 10% đối với ngành nông nghiệp Việt Nam vào khoảng 11 tỷ USD[2]. Nên nếu 10% chúng ta có 1,1 tỷ USD/năm để phục vụ hỗ trợ cho nông dân trong nước thì mức đó bảo đảm nền nông nghiệp ổn định phát triển trong tương lai.

            Những trợ cấp khác mà WTO không cấm thì chúng ta vẫn được sử dụng. Một số thông tin gần đây có đăng gia nhập WTO chúng ta sẽ bỏ hết trợ cấp, điều đó không phải. Chúng ta chỉ bỏ những trợ cấp bị cấm, còn những trợ cấp không cấm thì vẫn được duy trì và thực hiện. Còn đối với trợ cấp trong các lĩnh vực khác liên quan dệt may, chúng ta có Quyết định 55 của Thủ tướng Chính phủ. Chúng ta chỉ hỗ trợ vay vốn, Nhà nước chỉ hỗ trợ chênh lệch giữa lãi suất thông thường và lãi suất ưu đãi, tổng mức trợ cấp chỉ có năm triệu USD. Nhưng để kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ, Việt Nam đã bỏ Quyết định 55. Hoa Kỳ sẽ bỏ hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam. EU và Canada đã bỏ hạn ngạch cho chúng ta từ năm 2005. Khi gia nhập WTO, toàn bộ dệt may không bị hạn ngạch nữa. Ðây là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Chúng ta cũng phải bỏ một số quy định cấm: nhập khẩu thuốc lá điếu, ô-tô đã qua sử dụng. Trên thực tế, chúng ta đã bỏ việc cấm nhập ô-tô đã qua sử dụng. Vấn đề đáng quan tâm hiện nay là thuế, làm thế nào để vừa bảo vệ được lợi ích của người sản xuất lại vừa bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. Phải cân đối cả hai lợi ích này chứ không thể chỉ chú ý đến lợi ích của một bên.

            Ðàm phán song phương chúng ta đã kết thúc với 28 đối tác. Trong đàm phán song phương, Việt Nam đưa ra bản chào số 4, chào đến 99% số dòng trong biểu thuế nhập khẩu. Thí dụ, đàm phán với Hoa Kỳ, tổng số dòng thuế là 9.600 dòng thuế. Còn với các nước, tùy thuộc, có nước 3.000, có nước 5.000, có nước chỉ là 200 dòng thuế. Tùy theo yêu cầu của các nước, bản chào 4 chúng ta đã chào mức thuế trung bình hàng công nghiệp, nông nghiệp khoảng 18,4%. Từ đó, chúng ta đi đến đàm phán và đã kết thúc. Mức thuế trung bình hàng nhập khẩu (hàng nông sản và hàng công nghiệp) vào khoảng 13,4%. So với Trung Quốc, khi gia nhập, cam kết mức trung bình 10,1%. Kinh tế Việt Nammức phát triển thấp hơn Trung Quốc nên mức chúng ta cam kết chênh với Trung Quốc là hợp lý.

 Trong đàm phán, Oxfarm (một tổ chức phi chính phủ) hỏi mức cam kết thuế nông nghiệp như vậy thì ngành nông nghiệp của Việt Nam liệu có tồn tại và phát triển được không? Hàng hóa sẽ tràn ngập vào thị trường Việt Nam có phải không? Nhìn tổng thể chúng ta thấy hàng hóa không tràn ngập, tuy nhiên sẽ có một số mặt hàng nhập khẩu tăng. Chúng ta đã trải qua thử thách trong thị trường mậu dịch tự do ASEAN, mức thuế có lộ trình xuống 0-5%. Chúng ta thực hiện lộ trình CEPT - AFTA rồi nhưng tới bây giờ thị trường vẫn không bị tràn ngập hàng hóa của ASEAN. Gia nhập WTO, thuế trung bình của chúng ta đang từ mức 17,4%, giảm xuống 3% còn 13,4%. Như vậy, không có chuyện đó, và xuống đến mức đó thì chúng ta thôi. Trong đàm phán gia nhập WTO, một trong những nguyên tắc khó khăn nhất chúng ta phải vượt qua là để các nước hiểu thực tế Việt Nam và công nhận Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp và nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi. Ở Việt Nam có một nghịch lý, thu nhập bình quân đầu người chưa đầy 1.000 USD/năm, trong lúc WTO quy định những nước kém phát triển là nước có thu nhập dưới 1.000 USD. Nhưng Việt Nam không được xếp vào nước kém phát triển vì khi Liên hợp quốc công nhận Việt Nam là nước đang phát triển có cộng thêm các tiêu chí về y tế, văn hóa, giáo dục nên mới xếp Việt Nam là nước đang phát triển. Về kinh tế thu nhập chúng ta thấp. Cho nên, chúng ta phải thương lượng để được công nhận ở trình độ thấp.

            Mặt khác, nền kinh tế của chúng ta cần thời kỳ chuyển đổi, nên có lộ trình giảm thuế, lộ trình chuyển đổi thị trường. Lộ trình giảm thuế lấy mức thuế hiện hành bắt đầu giảm trong vòng 5-7 năm sẽ xuống mức 13,4%. Tất nhiên, từng mặt hàng có mức cắt giảm khác nhau: xe máy phân khối lớn theo lộ trình chúng ta cắt xuống còn 45% (hiện nay 60%); ô-tô tùy loại mức cắt giảm xuống còn 52% hoặc 47% hoặc 50%. Chúng ta áp mức thuế bảo hộ cho ngành ô-tô, xe máy khá cao. Cho nên trên thực tế mức đó không phù hợp lắm, nếu chỉ bảo vệ cho người sản xuất thì người tiêu dùng Việt Nam hiện nay chịu mức giá ô-tô cao nhất thế giới. Vì vậy, chúng ta phải giảm thuế, một mặt phải bảo vệ người sản xuất, mặt khác phải cân đối lại lợi ích của người tiêu dùng. Hơn nữa, thực tế các tập đoàn đa quốc gia đã phân vùng, phân khu vực thị trường. Một số ngành sản xuất trong nước của Việt Nam hiện nay đã phát triển. Những ngành đó trong thời gian qua đã thay thế được phần lớn các mặt hàng lâu nay vẫn nhập khẩu. Khi chúng ta mở cửa thị trường, các nhà sản xuất trong nước có sản phẩm rồi. Muốn hay không họ phải giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Thí dụ, phân đạm chúng ta đã có nhà máy phân đạm Phú Mỹ, Hà Bắc và đang xây thêm nhà máy phân đạm Cà Mau và Ninh Bình, nếu thuế thấp thì nhà máy phân đạm trong nước vẫn có khả năng cạnh tranh. Toàn bộ ngành bia, có mở nữa cũng coi như toàn bộ các công ty bia của Việt Nam vẫn cạnh tranh được; hoặc vật liệu xây dựng, xi-măng, thép (chủ yếu thép xây dựng, bắt đầu có đầu tư thép cao cấp), điều kiện kinh tế của Việt Nam bây giờ đã khác xa so với cách đây 15 năm.

            Ðối với nông nghiệp, các thành viên cũ, mức thuế nông nghiệp khoảng 22%. Nhưng xu hướng các nước mới gia nhập phải giảm thuế nhiều hơn để gia nhập. Vì các nước cho rằng, các nước đã gia nhập phải mất vài chục năm đấu tranh từ GATT để có thành quả như bây giờ. Các nước mới gia nhập sau đều phải đóng góp qua việc mở cửa thị trường, cắt giảm thuế.

            Nhưng, tổng thể với nông nghiệp, Việt Nam có lợi thế là có nhiều mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu. Ðã xuất khẩu được thì cạnh tranh được với thế giới. Chúng ta lo mặt hàng thịt bò, thịt lợn. Chúng ta thấy, thịt bò, thịt lợn là các mặt hàng từ chăn nuôi đơn lẻ, chưa theo hình thức trang trại. Cho nên, trong đàm phán rất khó khăn. Các nước xuất khẩu thịt bò lớn: Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Úc, Niu Di lân đều yêu cầu giảm thuế xuống 0-5%. Chúng ta trả lời: Bò Việt Nam phần lớn là bò cóc, mỗi hộ nuôi 5-10 con, năng suất thấp, sức cạnh tranh không cao. Giống bò của Việt Nam phần lớn phải nhập khẩu, phần trợ cấp của Nhà nước trong lĩnh vực này hầu như không có. Các nước cũng thấy được khó khăn của Việt Nam và cũng đi đến mức giảm đến 4-5% so với mức thuế hiện hành. Mức 0-5% thì chúng tôi cũng nói thẳng đàn bò cóc Việt Nam không cạnh tranh được. Và chúng ta gia nhập WTO muốn để ổn định, phát triển, mở cửa, nhưng mức độ phải phù hợp với Việt Nam chứ không phải mở theo bất cứ điều kiện nào. Cuối cùng, các nước cũng phải chấp nhận, ngay cả đàm phán với Hoa Kỳ vấn đề cuối cùng là đàm phán về thịt bò và thịt lợn. Chúng tôi phải chấp nhận điều kiện với Hoa Kỳ là cao hơn so với Úc Niu Di lân.

Ðàm phán song phương là những cuộc đàm phán căng thẳng nhất. Nhiều đối tác yêu cầu đàm phán vì họ cho rằng Việt Nam là một thị trường tương lai hứa hẹn, có số dân đông thứ 13 thế giới, lực lượng lao động hơn 40 triệu người, lao động trẻ hơn 30 triệu người. Việt Nam có vị trí thuận lợi cả đường bộ, đường biển, hàng không, là điều kiện cho phát triển thương mại sau này. Việt Nam có điều kiện thuận lợi nữa là ổn định về chính trị nhất trong khu vực. Ðây là điều các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm. Có thể nói, thương mại Việt Nam những năm qua tăng liên tục nhưng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu chưa phải là lớn lắm. Thí dụ, năm 2005 kim ngạch cả xuất, nhập khẩu mới đạt 69 tỷ USD. Nếu riêng xuất khẩu mới 32,5 tỷ USD, chúng ta phải phấn đấu nhiều hơn nữa. Nhưng nhìn vào tương lai nên nhiều nước đòi hỏi được đàm phán. Khi chúng ta đàm phán với Trung Quốc, chúng ta tưởng giữa Việt Nam - Trung Quốc đã có Hiệp định tự do thương mại trong ASEAN nên không cần đàm phán nữa, nhưng với Trung Quốc vẫn phải đàm phán 7 phiên, rất nhiều phiên căng thẳng, đàm phán suốt đêm, nhiều vấn đề căng như: mở du lịch, chi nhánh ngân hàng phụ, mở vận tải đường bộ, vận tải biển.

            Ðặc biệt là đàm phán với Hoa Kỳ và EU. Đây là hai đối tác lớn nhất trong WTO cả về hàng hóa và dịch vụ. Hoa Kỳ và EU đàm phán không phải vì lợi ích của Hoa Kỳ và EU mà vì lợi ích của cả Tổ chức Thương mại thế giới nên yêu cầu đàm phán rộng hơn, sâu và đa dạng hơn. Chúng ta cho rằng xong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) thì sẽ gần xong việc gia nhập WTO, trên thực tế, có một số vấn đề rất lớn chưa giải quyết được như hàng dệt may Việt Nam còn hạn ngạch, luật Jackson vanik hằng năm Quốc hội Hoa Kỳ gia hạn một lần về cơ chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR). Để có được PNTR, Hoa Kỳ yêu cầu chúng ta phải thực hiện đầy đủ BTA, gia nhập WTO. Hiện nay, chúng ta làm xong cả hai nhiệm vụ đó. Hoa Kỳ đánh giá Việt Nam thực hiện đầy đủ BTA, đồng thời kết thúc đàm phán về gia nhập WTO. Ðó là điều kiện để Quốc hội Hoa Kỳ thông qua PNTR. Việt Nam mới được hưởng thuế phổ thông, chưa được hưởng thuế ưu đãi GSP. Hoa Kỳ dành cho 72-74 nước được hưởng GSP không có Việt Nam, cho nên, gia nhập WTO là cơ hội cho chúng ta bình thường hoàn toàn quan hệ kinh tế thương mại với Hoa Kỳ.

 

PHẦN 2. TÓM TẮT CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM

 

I. CÁC CAM KẾT ĐA PHƯƠNG

Đây là các cam kết về việc tuân thủ các hiệp định của WTO, các cam kết về sửa đổi quy định, chính sách cho phù hợp với quy định của WTO và một số cam kết đặc thù của Việt Nam. Các cam kết đa phương của Việt Nam được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc được quy định trong các hiệp định của WTO. Về cơ bản, chúng ta cam kết thực hiện toàn bộ các hiệp định WTO ngay thời điểm gia nhập. Các hiệp định này đưa ra các quy định cụ thể đối với các lĩnh vực thương mại được điều tiết bởi WTO: cấp phép, hải quan, kiểm dịch, chống bán phá giá, sở hữu trí tuệ…

Các cam kết đa phương của Việt Nam trong khuôn khổ gia nhập WTO bao gồm các vấn đề sau:

1. Chính sách tài chính - tiền tệ, ngoại hối và thanh toán:

            Việt Nam, như tất cả các nước mới gia nhập khác, cam kết tuân thủ các quy định có liên quan của WTO và IMF về chính sách tài chính, tiền tệ, ngoại hối và thanh toán; không áp dụng các biện pháp hạn chế giao dịch vãng lai trái với quy định của WTO và IMF.

2. Các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát, hoặc được hưởng đặc quyền hoặc độc quyền:

Các DNNN sẽ hoàn toàn hoạt động theo tiêu chí thương mại, Nhà nước không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của DNNN và không coi mua sắm của DNNN là mua sắm chính phủ. Nhà nước can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp với tư cách là một cổ đông theo mức vốn Nhà nước sở hữu.

Cam kết này là hoàn toàn phù hợp với chủ trương đổi mới hoạt động và sắp xếp lại DNNN của ta. Vì vậy, về cơ bản, ta sẽ không phải điều chỉnh Luật Doanh nghiệp nhà nước khi thực hiện cam kết này.

3. Tư nhân hoá và cổ phần hoá:

            Việt Nam sẽ có báo cáo thường niên cho WTO về tiến độ cổ phần hóa chừng nào còn duy trì chương trình này.

4. Chính sách giá:

            Ta cam kết thực thi việc quản lý giá phù hợp với các quy định của WTO và sẽ bảo đảm tính minh bạch trong kiểm soát giá thông qua việc đăng tải danh mục các mặt hàng chịu sự quản lý giá và các văn bản pháp luật liên quan trên Công báo.

5. Khuôn khổ xây dựng và thực thi chính sách:

            Ta đưa ra 3 cam kết tại mục này. Một là, trong quá trình phê chuẩn văn kiện gia nhập, Việt Nam sẽ xác định thể thức thực thi các cam kết (áp dụng trực tiếp hoặc nội luật hoá) và khẳng định nguyên tắc ưu tiên áp dụng các điều khoản trong cam kết quốc tế. Hai là, các quy định của WTO được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ; các luật, các quy định dưới luật và các biện pháp khác bao gồm các quy định và biện pháp của chính quyền địa phương đều phải tuân thủ các quy định của WTO. Ba là, các cơ quan tư pháp (cơ quan xét xử) sẽ giữ tư cách độc lập, khách quan khi xét xử các quyết định hành chính thuộc các lĩnh vực mà WTO điều chỉnh.

6. Quyền kinh doanh (quyền xuất khẩu và nhập khẩu):

Kể từ khi gia nhập, ta cho phép Doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa như doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước (như xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo, tạp chí) và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi (như gạo và dược phẩm). Doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam phù hợp thông lệ quốc tế. Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu không bao gồm quyền phân phối trong nước.

7. Thuế nhập khẩu, các loại thuế và các khoản thu khác:

            Ta cam kết sẽ áp dụng thuế nhập khẩu theo nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các Thành viên WTO (trừ những trường hợp ngoại lệ được WTO cho phép). Nếu tăng thuế nhập khẩu, ta sẽ thực hiện theo quy định của WTO. Ta cũng cam kết không duy trì các loại thuế và khoản thu áp dụng riêng cho hàng nhập khẩu (trên thực tế các phụ thu này đã được bãi bỏ).

8. Hạn ngạch thuế quan (HNTQ):

            Ta cam kết sẽ áp dụng, phân bổ và quản lý HNTQ một cách minh bạch, không phân biệt đối xử và tuân thủ theo đúng các quy định của WTO. 

9. Miễn giảm thuế nhập khẩu:

            Ta cam kết sẽ miễn, giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử và sẽ không gắn việc miễn, giảm thuế với các yêu cầu về xuất khẩu hay nội địa hóa (Bởi việc miễn, giảm thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu dựa trên thành tích xuất khẩu hoặc tỷ lệ nội địa hóa bị coi là trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO).

10. Phí và lệ phí áp dụng với dịch vụ công:

            Ta cam kết sẽ áp dụng các loại phí và lệ phí theo quy định của WTO, cụ thể là mức phí sẽ phản ánh đúng giá trị của dịch vụ được cung ứng. Mức phí quá cao đang áp dụng với một số dịch vụ (chủ yếu là phí hải quan), vì vậy, sẽ phải điều chỉnh lại khi ta vào WTO.

11. Thuế nội địa:

            Cách áp nhiều mức thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu, bia dựa trên nồng độ cồn của ta hiện nay gián tiếp vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO. Ta cam kết trong vòng 3 năm sau khi gia nhập sẽ để điều chỉnh lại cách đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp với quy định của WTO. Cụ thể, đối với rượu trên 20 độ cồn, ta hoặc là sẽ áp dụng 1 mức thuế tuyệt đối hoặc 1 mức thuế phần trăm; đối với bia, ta sẽ chỉ áp dụng 1 mức thuế phần trăm.

12. Biện pháp hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu (bao gồm cấm nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu...):

Ta đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân khối lớn không muộn hơn ngày 31/05/2007 phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam.

Với thuốc lá điếu và xì gà, ta cho phép 1 doanh nghiệp thương mại nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà.

Với ô tô cũ, ta cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm với mức thuế nhập khẩu được xác định trong biểu cam kết về thuế và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật.

Ta khẳng định biện pháp cấm nhập khẩu thiết bị và phần mềm mã hóa thuộc diện bí mật nhà nước không ảnh hưởng tới các sản phẩm thương mại thông thường phục vụ tiêu dùng đại chúng.

            Ta bảo đảm cơ chế cấp phép nhập khẩu văn hoá phẩm nhằm mục đích kiểm duyệt sẽ tuân thủ theo các quy định về minh bạch hoá của WTO.

13. Xác định trị giá tính thuế nhập khẩu:

            Ta cam kết tuân thủ Hiệp định về xác định trị giá tính thuế nhập khẩu của WTO ngay từ khi gia nhập. 

14. Quy tắc xuất xứ:

            Ta cam kết tuân thủ Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO từ thời điểm gia nhập. Trên thực tế, ta không quy trì các quy định về xuất xứ vi phạm quy định của Hiệp định này.

15. Thủ tục hải quan khác và giám định trước khi giao hàng:

Ta cam kết tuân thủ Hiệp định về giám định (giám định bắt buộc) trước khi xếp hàng cũng như các Hiệp định có liên quan khác của WTO. Trên thực tế, các quy định hiện hành của ta không mâu thuẫn với các quy định của WTO.

16. Chống bán phá giá, chống trợ cấp và các biện pháp tự vệ:

Việt Nam cam kết tuân thủ các Hiệp định có liên quan của WTO khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.

            Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm. Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu chứng minh được với đối tác nào đó là kinh tế Việt Nam đã hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng quy chế "phi thị trường" đối với ta.

17. Các quy định về xuất khẩu, bao gồm thuế xuất khẩu, phí và lệ phí, thuế nội địa đối với hàng xuất khẩu và hạn chế xuất khẩu:

            Ta cam kết ràng buộc và giảm thuế xuất khẩu cho các loại phế liệu kim loại đen và kim loại mầu và tuân thủ các quy định của WTO về hạn chế xuất khẩu, phí, lệ phí, thuế nội địa đối với hàng xuất khẩu.

18. Chính sách công nghiệp, bao gồm cả chính sách trợ cấp:

Ta đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO (trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa). Tuy nhiên, với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, ta bảo lưu được thời gian quá độ là 5 năm (trừ đối với ngành dệt may).

19. Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, tiêu chuẩn và chứng nhận hợp chuẩn:

            Ta cam kết tuân thủ đầy đủ các quy định của Hiệp định TBT.

20. Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật:

            Trên thực tế, hệ thống pháp luật và các biện pháp SPS mà ta đang áp dụng không có gì trái Hiệp định SPS. Vì vậy, ta đã cam kết tuân thủ toàn bộ Hiệp định SPS kể từ khi gia nhập.

21. Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs):

Ta đồng ý cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Hiệp định TRIMs từ thời điểm gia nhập. Cụ thể, ta sẽ không áp dụng các biện pháp được minh hoạ trong Hiệp định này như: yêu cầu thực hiện nội địa hóa, yêu cầu đầu tư phải gắn với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, yêu cầu cân đối ngoại tệ, cân đối xuất-nhập khẩu hoặc yêu cầu hạn chế xuất khẩu...

22. Khu thương mại tự do và đặc khu kinh tế:

            Các quy định và chính sách áp dụng cho các "đặc khu kinh tế" sẽ tuân thủ đúng các quy định của WTO và các cam kết của Việt Nam về trợ cấp, thuế nội địa, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và các quy định khác. Luật Đầu tư mới, có hiệu lực từ 1/7/2006, đã điều chỉnh chính sách phù hợp với cam kết này của ta.

23. Quá cảnh:

            Ta cam kết sẽ tuân thủ các quy định của WTO về quá cảnh ngay từ thời điểm gia nhập.

24. Nông nghiệp:

Tương tự như các nước mới gia nhập khác, ta cam kết sẽ không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, để hỗ trợ cho nông nghiệp, ta vẫn có thể sử dụng các biện pháp không thuộc diện bị cấm ở mức không quá 10% giá trị sản lượng. Thực tế các năm vừa qua mức hỗ trợ của ta chỉ dao động quanh 3% giá trị sản lượng nông nghiệp.

25. Các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại  (TRIPs):

Hệ thống pháp luật trong nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của ta tương đối phù hợp với các quy định tương ứng của Hiệp định TRIPs nên việc ta gia nhập WTO và cam kết tuân thủ Hiệp định TRIPs kể từ khi gia nhập WTO về cơ bản không làm phát sinh nghĩa vụ mới. Ta đưa ra các cam kết như sau: 

            - Ban hành một số quy định pháp luật nhằm nâng cao tính răn đe đối với các hành vi xâm hại quyền sở hữu trí tuệ và điều chỉnh một số điều trong các quy định hiện hành phù hợp với Hiệp định TRIPs và Công ước Berne.

            - Ban hành trước thời điểm gia nhập văn bản quy phạm pháp luật quy định các cơ quan Chính phủ chỉ sử dụng phần mềm máy tính hợp pháp và không cho phép các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình phát các chương trình không có bản quyền.

26. Các chính sách ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ:

            Trong đề mục này, bên cạnh việc làm rõ các chính sách tác động đến thương mại dịch vụ, ta đưa ra một số cam kết để làm rõ, hoặc bổ sung thêm cho Biểu cam kết dịch vụ. Những cam kết đáng chú ý là:

            - Việc cấp phép cung ứng dịch vụ sẽ được thực hiện theo các tiêu chí khách quan, minh bạch.

- Các doanh nghiệp không phải DNNN được tham gia cung ứng dịch vụ viễn thông không gắn với hạ tầng mạng và được tham gia liên doanh với nước ngoài theo các quy định trong Biểu cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ.

            - Không quá 3 tháng sau ngày Nghị định thư gia nhập WTO được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê chuẩn, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định hướng dẫn việc cấp phép cung ứng dịch vụ chuyển phát nhanh. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cung ứng dịch vụ chuyển phát nhanh có quyền sở hữu và vận hành các phương tiện đường bộ phục vụ cho việc cung ứng dịch vụ của họ.

            - Các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam sẽ được dành đối xử quốc gia trong các vấn đề có liên quan đến thiết lập hiện diện thương mại. Việt Nam không cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài được mở thêm điểm giao dịch ngoài trụ sở của chi nhánh nhưng sẽ không hạn chế số lượng chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Máy rút tiền tự động (ATM) không chịu sự điều chỉnh của quy định hạn chế mở thêm "điểm giao dịch ngoài trụ sở chính". Ngân hàng nước ngoài sẽ được hưởng đối xử MFN và đối xử NT trong việc lắp đặt và vận hành máy ATM. 

            - Ta đồng ý cho phép các bên tham gia liên doanh được tự thoả thuận về  tỷ lệ vốn tối thiểu cần thiết để quyết định các vấn đề quan trọng của công ty TNHH và công ty cổ phần. Để thực thi cam kết này, ta sẽ có hình thức pháp lý thích hợp để sửa điều 52 và 104 của Luật Doanh nghiệp.

27. Minh bạch hóa:

Ta cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ dành tối thiểu 60 ngày cho việc đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực điều chỉnh của WTO. Ta cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí hoặc trang tin điện tử (websites) của các Bộ, ngành.

28. Nghĩa vụ thông báo và các hiệp định thương mại:

            Ta cam kết tuân thủ các quy định của WTO về nghĩa vụ thông báo các thông tin cần thiết cho WTO (chủ yếu liên quan chế độ, chính sách), bao gồm cả việc thông báo về các hiệp định thương mại có liên quan.

II. CAM KẾT VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ

Các Thành viên WTO thường yêu cầu nước xin gia nhập phải cam kết: (i) ràng buộc mức trần cho tất cả các dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu của mình; (ii) chỉ dùng thuế nhập khẩu làm công cụ để bảo hộ; và (iii) tại cửa khẩu, ngoài thuế nhập khẩu, không sử dụng phí, lệ phí và các khoản thu khác nhằm mục đích thu ngân sách. WTO còn yêu cầu phải giảm thuế, nhất là các mặt hàng đang có thuế suất áp dụng cao và yêu cầu các nước xin gia nhập cắt giảm thuế theo ngành với mức cắt giảm 0%  (như Hiệp định công nghệ thông tin, Hiệp định về thiết bị máy bay dân dụng, thiết bị y tế) hoặc hài hoà thuế suất ở mức thấp (như Hiệp định hoá chất, Hiệp định hàng dệt may).

Việt Nam giảm mức thuế bình quân từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm. Mức thuế bình quân hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong khoảng 5 năm. Mức thuế bình quân hàng công nghiệp  giảm từ 16,8% xuống 12,6%, thực hiện trong vòng từ 5 đến 7 năm (mức giảm thuế chi tiết từng mặt hàng xem biểu thuế).

Việt Nam cũng cam kết tham gia một số hiệp định tự do hoá theo ngành. Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia đầy đủ là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế. Những ngành mà Việt Nam tham gia một phần là thiết bị máy bay, hoá chất và thiết bị xây dựng. Thời gian để giảm thuế là từ 3-5 năm.

Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng hạn ngạch thuế quan với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối. Riêng muối là mặt hàng WTO không coi là nông sản, do vậy thường không được áp dụng công cụ hạn ngạch thuế quan nhưng ta kiên quyết giữ để bảo vệ lợi ích của diêm dân. Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế MFN hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 40-50%, thuốc lá lá 30%, muối ăn 30%). Mức thuế ngoài hạn ngạch cao hơn rất nhiều.

Mức thuế bình quân cho các nhóm mặt hàng chính được cung cấp trong bảng sau:

Mức thuế bình quân theo ngành hàng tổng hợp

Ngành hàng

chi tiết

Số dòng thuế

Ts MFN (%)

T/s cam kết tại thời điểm gia nhập WTO (%)

T/s cam kết cắt giảm cuối cùng cho WTO (%)

Mức cắt giảm so MFN hiện hành (%)

Cam kết WTO của Trung Quốc (%)

1. Nông sản

1.219

23,5

25,2

21,0

10,6

16,7

2. Cá, sản phẩm cá

176

29,3

29,1

18,0

38,4

8,9

3. Dầu khí

37

3,6

36,8

36,6

 

4,6

4. Gỗ, giấy

630

15,6

14,6

10,5

32,8

5,3

5. Dệt may

1.159

37,3

13,7

13,7

63,2

11,6

6. Da, cao su

341

18,6

19,1

14,6

21,5

13,0

7. Kim loại

1.201

8,1

14,8

11,4

 

7,3

8. Hóa chất

1.579

7,1

11,1

6,9

2,8

7,7

9. Thiết bị vận tải

1.026

35,3

46,9

37,4

 

17,1

10. Máy móc thiết bị cơ khí

1.436

7,1

9,2

7,3

 

7,8

11. Máy móc thiết bị điện

766

12,4

13,9

9,5

23,5

7,9

12. Khoáng sản

396

14,4

16,1

14,1

2,3

9,5

13. Hàng chế tạo khác

723

14,0

12,9

10,2

26,9

11,1

Cộng

10.689

17,4

17,2

13,4

23,0

10,1

Những ngành có mức cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện - điện tử.

Ta cũng cam kết tham gia đầy đủ 3 thoả thuận tự do hoá theo ngành gồm công nghệ thông tin, dệt may, thiết bị y tế và tham gia một phần với các thoả thuận ngành thiết bị máy bay, hoá chất, thiết bị xây dựng… sau 3-5 năm. Theo các cam kết này, các sản phẩm công nghệ thông tin sẽ được xoá bỏ thuế, và các mặt hàng khác cũng được giảm thuế xuống mức rất thấp.

III. VỀ VẤN ĐỀ TRỢ CẤP:

            Đối với trợ cấp nông sản, nước xin gia nhập phải cam kết loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản. Đối với sản phẩm phi nông sản, có 3 nhóm tợ cấp: Nhóm đèn đỏ là trợ cấp cấm được áp dụng (gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế nhập khẩu). Nhóm đèn vàng là trợ cấp riêng biệt cho một ngành, gây bóp méo cho thương mại, không bị cấm áp dụng nhưng có thể bị “trả đũa”. Nhóm đèn xanh là trợ cấp được coi là ít gây bóp méo thương mại. Tuy nhiên, WTO cũng có những ngoại lệ dành cho các nước đang và kém phát triển đối với trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp. Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO (trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa). Việt Nam bảo lưu được thời gian quá độ là 5 năm (trừ đối với ngành dệt may) đối với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO. Đối với hỗ trợ trong nước đối với nông nghiệp ta vẫn được hưởng mức hỗ trợ là 10%.

IV. CAM KẾT VỀ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ

Đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ để gia nhập WTO căn cứ theo yêu cầu đàm phán mà các thành viên WTO đưa ra trên cơ sở các nguyên tắc của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS). Lộ trình cam kết về thương mại dịch vụ được gọi là Biểu cam kết về Thương mại Dịch vụ.

Về nội dung:

Biểu cam kết dịch vụ gồm 3 phần: cam kết chung, cam kết cụ thể và danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc (MFN).

Phần cam kết chung bao gồm các nội dung cam kết được áp dụng cho tất cả các dịch vụ đưa vào Biểu cam kết dịch vụ. Phần này chủ yếu đề cập tới những vấn đề kinh tế - thương mại tổng quát như các quy định về chế độ đầu tư, hình thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất, các biện pháp về thuế, trợ cấp cho doanh nghiệp trong nước v.v…. Các công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ phi điều đó được cho phép theo cam kết trong từng ngành cụ thể. Các công ty nước ngoài cũng được phép mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng mức mua trong từng ngành sẽ phải phù hợp với hạn chế về phần vốn thuộc sở hữu nước ngoài quy định trong Biểu cam kết (riêng ngành ngân hàng, phía nước ngoài chỉ được phép mua tối đa 30% cổ phần). Các công ty nước ngoài cũng được phép đưa cán bộ quản lý vào Việt Nam làm việc nhưng tối thiểu 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam.

Phần cam kết cụ thể bao gồm các nội dung cam kết được áp dụng cho từng dịch vụ đưa vào Biểu cam kết dịch vụ. Điều này có nghĩa là đối với mỗi dịch vụ trong Biểu cam kết sẽ có nội dung cam kết cụ thể áp dụng cho dịch vụ đó, chẳng hạn như các cam kết về dịch vụ viễn thông, về dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng hoặc về dịch vụ vận tải. Nội dung cam kết thể hiện mức độ mở cửa thị trường đối với từng dịch vụ cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.

Danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc liệt kê các biện pháp được duy trì để bảo lưu việc vi phạm nguyên tắc MFN đối với những dịch vụ có duy trì biện pháp miễn trừ. Theo quy định của GATS, một thành viên được vi phạm nguyên tắc MFN nếu thành viên đó đưa biện pháp vi phạm vào danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc và được các Thành viên WTO chấp thuận.

Về cấu trúc:

            Biểu cam kết dịch vụ gồm 4 cột: i) cột mô tả ngành/phân ngành; ii) cột hạn chế về mở cửa thị trường; iii) cột hạn chế về đối xử quốc gia và iv) cột cam kết bổ sung.

Cột mô tả ngành/phân ngành thể hiện tên dịch vụ cụ thể được đưa vào cam kết. Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của Ban Thư ký WTO, có tất cả 12 ngành và 155 phân ngành dịch vụ được các Thành viên WTO tiến hành đàm phán. Việt Nam cam kết mở cửa 11 ngành và 110 phân ngành.       

Cột hạn chế về mở cửa thị trường liệt kê các biện pháp duy trì đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Biểu cam kết nào liệt kê càng nhiều biện pháp nói trên thì mức độ mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài càng chặt chẽ.

            Cột cam kết bổ sung liệt kê các biện pháp ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp và tiêu dùng dịch vụ nhưng không thuộc về hạn chế mở cửa thị trường hay hạn chế về đối xử quốc gia. Cột này mô tả những quy định liên quan đến trình độ, tiêu chuẩn kỹ thuật, các yêu cầu hoặc thủ tục về việc cấp phép v.v…

Về các phương thức cung cấp dịch vụ:

GATS quy định 4 phương thức cung cấp dịch vụ, bao gồm: 1) cung cấp qua biên giới; 2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ; 3) hiện diện thương mại; 4) hiện diện thể nhân.

            Phương thức cung cấp qua biên giới (gọi tắt là Phương thức 1) là phương thức theo đó dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một Thành viên này sang lãnh thổ của một Thành viên khác. Ví dụ, vận tải hàng hoá hoặc hành khách từ Trung Quốc sang Việt Nam.

            Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ (gọi tắt là Phương thức 2) là phương thức theo đó người tiêu dùng của một Thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một Thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ. Ví dụ, khách du lịch nước ngoài sang Việt Nam tham quan và mua sắm.

            Phương thức hiện diện thương mại (gọi tắt là Phương thức 3) là phương thức theo đó nhà cung cấp dịch vụ của một Thành viên thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh v.v…trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ. Ví dụ, ngân hàng Hoa Kỳ thành lập chi nhánh để kinh doanh tại Việt Nam.

            Phương thức hiện diện thể nhân (gọi tắt là Phương thức 4) là phương thức theo đó thể nhân cung cấp dịch vụ của một Thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một Thành viên khác để cung cấp dịch vụ. Ví dụ, các nghệ sĩ, chuyên gia nước ngoài sang Việt Nam hoạt động.

Về mức độ cam kết:

Do các điều kiện được sử dụng trong Biểu cam kết của mỗi Thành viên sẽ tạo ra các cam kết có tính ràng buộc pháp lý  nên việc thể hiện có hay không có các hạn chế về mở cửa thị trường hay đối xử quốc gia phải thống nhất và chính xác. Phụ thuộc vào mức độ hạn chế mà mỗi Thành viên có thể đưa ra, thường có bốn trường hợp sau: Cam kết toàn bộ; Cam kết kèm theo những hạn chế; Không cam kết; và Không cam kết vì không có tính khả thi kỹ thuật./.

Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ cụ thể:

1. Dịch vụ kinh doanh

Theo phân loại của GATS, ngành dịch vụ này được chia thành 46 phân ngành. Ta cam kết 26 phân ngành. Các cam kết chính bao gồm:

- Bảo lưu quy định doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN và các dự án nước ngoài ở Việt Nam trong vòng 1 năm kể từ khi gia nhập đối với dịch vụ thuế, 3 năm kể từ khi gia nhập với dịch vụ kiến trúc, dịch vụ thiết kế đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị, dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan.

- Có lộ trình tăng tỷ lệ vốn góp trong liên doanh, tiến tới cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài  với các dịch vụ thiết kế đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị, dịch vụ quảng cáo, nghiên cứu thị trường, dịch vụ phân tích và kiểm tra kỹ thuật… Nhìn chung, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ được phép thành lập ở Việt Nam trong khoảng từ 2-5 năm sau khi gia nhập.

Như vậy, một số phân ngành được cam kết ở mức hiện trạng của ta, hoặc cam kết gần với mức trong BTA (ví dụ như dịch vụ kiến trúc, tư vấn kỹ thuật, quy hoạch đô thị, quảng cáo, dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật…), với một số khác, ta có một số bước tiến so với BTA song nhìn chung đều phù hợp với thực tế và định hướng phát triển thị trường các dịch vụ này trong nước hiện nay, đồng thời, ta vẫn giữ được một khoảng thời gian quá độ hợp lý để bổ sung, ban hành các quy định về quản lý trong nước (ví dụ như dịch vụ tư vấn quản lý, dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ, dịch vụ tư vấn liên quan đến khoa học - kỹ thuật).

2. Dịch vụ thông tin (viễn thông)

- Về cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng: cam kết trong WTO không có nhân nhượng thêm so với BTA. Trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông cơ bản, bên nước ngoài chỉ được phép đầu tư dưới hình thức liên doanh với nhà khai thác Việt Nam được cấp phép với vốn góp tối đa là 49%.

- Về cung cấp dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng: Trong 3 năm đầu kể từ khi gia nhập WTO, bên nước ngoài chỉ được phép đầu tư dưới hình thức liên doanh với nhà khai thác Việt Nam được cấp phép với phần vốn góp tối đa là 51%. 3 năm sau khi nhập, bên nước ngoài mới được phép tự do lựa chọn đối tác liên doanh và nâng mức vốn góp lên 65%.

Riêng với dịch vụ mạng riêng ảo VPN và dịch vụ viễn thông gia tăng giá trị được cung cấp trên hạ tầng mạng do Việt Nam kiểm soát, bên nước ngoài được phép tự do lựa chọn đối tác liên doanh ngay sau khi gia nhập và được phép tham gia vốn tối đa ở mức 70% vốn pháp định của liên doanh đối với dịch vụ VPN.

- Về cung cấp dịch vụ viễn thông qua biên giới: 3 năm sau khi gia nhập, các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam sẽ được cấp phép sử dụng trực tiếp dịch vụ vệ tinh của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Ta cũng có cam kết cho phép bên nước ngoài được kết nối và bán dung lượng cáp quang biển kết nối với các trạm cập bờ của Việt Nam với lộ trình cụ thể.

Về tổng thể, cam kết của ta cao hơn mức cam kết của Trung Quốc đưa ra năm 2000 nhưng thấp hơn nhiều mức cam kết của các nước gia nhập WTO sau Trung Quốc. Bên cạnh đó, ta đã thành công trong việc bảo lưu hạn chế “nước ngoài phải liên doanh với đối tác Việt Nam đã được cấp phép” và giữ được mức vốn góp tối đa là 49% với dịch vụ viễn thông cơ bản có hạ tầng mạng.

 Dịch vụ nghe nhìn

Nhìn chung, cam kết về dịch vụ nghe nhìn của ta ở mức tương đương BTA. Với các dịch vụ sản xuất, phân phối và trình chiếu phim, ta cho phép phía nước ngoài được tham gia vào hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với các đối tác Việt Nam được cấp phép với mức vốn góp tối đa là 51% vốn pháp định. Yêu cầu kiểm duyệt được nhấn mạnh trong tất cả các dịch vụ sản xuất, phân phối và chiếu phim.

3. Dịch vụ xây dựng

Mức độ cam kết vẫn giữ như BTA nhưng bổ sung thêm nội dung về chi nhánh. Cụ thể, sau 3 năm kể từ khi gia nhập WTO, ta cho phép thành lập chi nhánh với điều kiện trưởng chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam. Nhìn chung, cam kết đối với dịch vụ xây dựng là phù hợp với hiện trạng tại Việt Nam.

4. Dịch vụ phân phối

Cam kết của ta cho phép bên nước ngoài thành lập liên doanh với phần vốn góp tối đa là 49% kể từ khi gia nhập. Hạn chế vốn góp này được từng bước nới lỏng và đến năm 2009, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài mới được phép thành lập.

Tương tự như BTA, ta không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách, báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quy cho nước ngoài. Bên cạnh đó, với nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, phân bón, xi măng… ta chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm. Quan trọng nhất, ta hạn chế rất chặt khả năng mở điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN.

Mức cam kết của ta trong WTO thấp hơn hiện trạng, vì trên thực tế, một số tập đoàn phân phối lớn đã thành lập siêu thị 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam. Việc hạn chế khả năng mở điểm bán lẻ sẽ giữ được thị trường cho các nhà phân phối Việt Nam.

5. Dịch vụ giáo dục

Phạm vi cam kết rộng hơn so với BTA nhưng vẫn thấp hơn hiện trạng của ta và hoàn toàn phù hợp với chủ trương xã hội hoá giáo dục của Chính phủ hiện nay. Các cơ sở đào tạo có vốn nước ngoài phải tuân thủ các yêu cầu đối với giáo viên nước ngoài, chương trình đào tạo phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam phê chuẩn. Riêng dịch vụ giáo dục phổ thông cơ sở ta chỉ cho phép đối với phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ (Phương thức 2).

6. Dịch vụ môi trường

Ta cho phép bên nước ngoài thành lập liên doanh với các đối tác Việt Nam được cấp phép trong các lĩnh vực dịch vụ nước thải, xử lý rác thải, xử lý tiếng ồn, làm sạch khí thải và đánh giá tác động của môi trường kể từ khí gia nhập với phần vốn góp tối đa là 49% hoặc 50%, và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ được phép thành lập trong khoảng 4-5 năm sau khi gia nhập.

7. Dịch vụ tài chính

Dịch vụ bảo hiểm

Ta cho phép nhà cung cấp nước ngoài được cung cấp qua biên giới một số loại hình dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm cho doanh nghiệp có vốn ĐTNN và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, tái bảo hiểm, bảo hiểm đối với vận tải quốc tế... Nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được thành lập công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài sau khi gia nhập WTO, được cung cấp các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc từ ngày 1/1/2008 và thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO.

Về tổng thể, mức cam kết này là tương đương với BTA (trừ cam kết về chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ). Mức cam kết này cũng thấp hơn nhiều so với cam kết của các nước gia nhập WTO gần đây.

Dịch vụ ngân hàng

Một số cam kết trong lĩnh vực quan trọng này được giữ ở mức như BTA như không cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài mở điểm giao dịch ngoài trụ sở chi nhánh, hạn chế các tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần của các ngân hàng thương mại quốc doanh cổ phần hoá, chưa tự do hoá các giao dịch vốn... Bên cạnh đó, ta cũng đưa ra một số bước tiến phù hợp với thực trạng và chính sách của ngành, như cho phép các ngân hàng nước ngoài thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài, đẩy nhanh lộ trình cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam.

Dịch vụ chứng khoán

Ta cho phép các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán cung cấp qua biên giới một số hoạt động liên quan đến chứng khoán như thông tin tài chính, tư vấn tài chính, các dịch vụ trung gian và hỗ trợ kinh doanh chứng khoán v.v… Ngoài ra, ta cũng cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài ngay từ khi gia nhập WTO. Sau 5 năm, ta cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài và chi nhánh để cung cấp dịch vụ chứng khoán đối với một số loại hình dịch vụ như quản lý tài sản, thanh toán, tư vấn liên quan đến chứng khoán, trao đổi thông tin tài chính.

Nội dung các cam kết này hoàn toàn phù hợp với Luật Chứng khoán mới ban hành và định hướng phát triển của ngành.

8. Dịch vụ y tế

Các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập liên doanh, ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập bệnh viện 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Ta cũng đưa ra một số quy định về vốn tối thiểu. Mức độ cam kết trong dịch vụ này như BTA, chỉ khác điểm duy nhất là ta đã giảm mức vốn tối thiểu để thành lập cơ sở điều trị chuyên khoa từ 1 triệu USD xuống còn 200.000 (ta đã bải bỏ yêu cầu này trên thực tế).

9. Dịch vụ du lịch

Đối với dịch vụ khách sạn – nhà hàng, trong vòng 8 năm kể từ khi gia nhập, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo hoặc mua lại khách sạn. Đối với dịch vụ lữ hành và điều hành tour du lịch, ta cho phép thành lập liên doanh không hạn chế vốn góp nước ngoài. Các công ty có vốn ĐTNN không được phep cung cấp dịch vụ đưa khách ra nước ngoài (outbound) và dịch vụ lữ hành nội địa (domestic). Các cam kết này hoàn toàn phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam.

10. Dịch vụ văn hoá, giải trí

Với dịch vụ giải trí, phía nước ngoài chỉ được phép thành lập liên doanh sau 5 năm kể từ khi gia nhập với mức vốn góp tối đa là 49%. Với lĩnh vực kinh doanh trò chơi điện tử, việc cung cấp phải thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với các đối tác Việt Nam được cấp phép và phần vốn góp của phía nước ngoài không quá 49%.

11. Dịch vụ vận tải

Dịch vụ vận tải biển và hỗ trợ vận tải biển

Ta không hạn chế nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vận chuyển hàng hoá qua biên giới, không cam kết đối với vận tải hành khách. Sau 2 năm kể từ khi gia nhập, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập liên doanh khai thác đội tầu mang cờ quốc tịch Việt Nam với phần vốn góp không quá 49% vốn pháp định. Ngoài ra, kể từ khi gia nhập, công ty nước ngoài được phép thành lập liên doanh với 51% sở hữu nước ngoài và sau 5 năm là công ty 100% vốn nước ngoài để cung cấp một số dịch vụ vận tải biển quốc tế. Số lượng liên doanh tối đa là 5 công ty ở thời điểm gia nhập, cứ 2 năm cho phép thêm 3 công ty, sau 5 năm kể từ khi gia nhập sẽ không hạn chế số lượng công ty.

Ta cam kết cho phép nước ngoài liên doanh để cung ứng một số dịch vụ hỗ trợ vận tải như dịch vụ xếp dỡ côngtenơ, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho bãi côngtennơ.        

Dịch vụ vận tải bộ

Ta không cam kết dịch vụ vận tải hàng hoá và hành khách qua biên giới. Bên nước ngoài được phép thành lập liên doanh 49% và sau 3 năm lên 51% để cung cấp dịch vụ vận tải hàng hoá và hành khách tại Việt Nam trên cơ sở xem xét từng trường hợp cụ thể. 100% lái xe của các liên doanh phải là công dân Việt Nam.

Dịch vụ vận tải đường thuỷ, đường sắt và đường không

Tương tự như dịch vụ vận tải bộ, ta chưa cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được vận chuyển hàng hoá và hành khách qua biên giới. Với dịch vụ vận tải đường thuỷ, ta cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập WTO. Với dịch vụ vận tải đường sắt, ta cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài nhưng chỉ được vận tải hàng hoá. 

Đối với dịch vụ bán và tiếp thị sản phẩm hàng không, dịch vụ đặt giữ chỗ bằng máy tính, ta cam kết theo thực tế hiện hành. Đối với dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, ta cho phép thành lập liên doanh 51% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập WTO. Sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, ta cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài.

Danh mục miễn trừ Tối huệ quốc

Ta bảo lưu một số ngoại lệ MFN (tức chỉ áp dụng với bên ký kết mà không đa phương hoá trong WTO) với một số lĩnh vực, gồm các Hiệp định bảo hộ đầu tư song phương (BIT) đã ký với các nước; các thoả thuận trong lĩnh vực sản xuất, phát hành và trình chiếu phim...; và dịch vụ vận tải biển./.

Ông Lương Văn Tự

Nguyên: Thứ trưởng Bộ Thương mại

Tổng Thư ký UBQG về HTKTQT

 Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về KTTMQT

 


ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
Số 2 Phạm Sư Mạnh, Hà Nội, Việt Nam
ĐT: (043) 8262549 - Fax: (043) 9348959
Email:
NCIEC@MOIT.GOV.VN

Cổng thông tin được xây dựng với hỗ trợ của Dự án MUTRAP II do Liên minh châu Âu tài trợ