Skip to main content

Go Search
Trang chủ
Văn kiện cơ bản của WTO
Tiếp cận thị trường
Vòng Doha
WTO - Hỏi và Đáp
Góp ý thông báo
Đăng ký thành viên
English
  
> Trợ cấp và bán phá giá > Nguy cơ kiện trợ cấp đối với hàng xuất khẩu Việt Nam  

Trợ cấp và bán phá giá: Nguy cơ kiện trợ cấp đối với hàng xuất khẩu Việt Nam

Title Original

Nguy cơ kiện trợ cấp đối với hàng xuất khẩu Việt Nam 

Body

Sau khi Việt Nam lần đầu tiên vướng phải một vụ kiện chống trợ cấp tại thị trường nước ngoài - vụ túi nhựa PE tại Hoa Kỳ, các ngành hàng xuất khẩu của chúng ta mới “giật mình” nhận ra một nguy cơ mới xuất hiện sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới. Đó không chỉ là các vụ kiện chống bán phá giá mà còn cả các vụ kiện chống trợ cấp – những rào cản hợp pháp mà các nước nhập khẩu thường xuyên sử dụng để bảo vệ ngành sản xuất nội địa của mình.

Đến nay, Việt Nam mới lần đầu tiên bị đánh thuế chống trợ cấp lên túi nhựa PE, nhưng đây sẽ là tiền lệ không tốt cho việc xuất khẩu của Việt Nam. Việc này có ý nghĩa như thế nào đối với Việt Nam thưa bà?

Thực ra, nói cho đúng thì đây là vụ điều tra chống trợ cấp đầu tiên đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam. Sau 1 năm điều tra, ngày 26/3/2010 vừa rồi Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) ra đã kết luận cuối cùng khẳng định có trợ cấp đối với túi nhựa PE Việt Nam (với mức thấp nhất là 0.44%, cao nhất 52.56%, biên độ chung toàn quốc là 5.28%). Cuối tháng 4, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) ra kết luận cuối cùng khẳng định có thiệt hại (đối với ngành túi nhựa PE Hoa Kỳ). Như vậy túi nhựa PE của Việt Nam đã chính thức bị áp thuế chống trợ cấp.

Vụ điều tra này ngay từ khi bắt đầu đã làm dấy lên một loạt những lo ngại ở Việt Nam, không chỉ đối với ngành sản xuất túi nhựa PE. Nhiều nhà quan sát cho rằng hiện đang có một số xu hướng nguy hiểm trong việc áp dụng các biện pháp phòng vệ như hiện tượng domino (một nước kiện một mặt hàng nào đó thì các nước khác có thể sẽ đi kiện theo) hay hiện tượng gia tăng các vụ điều tra chống trợ cấp sau giai đoạn khủng hoảng, khi Chính phủ các nước xuất khẩu có xu hướng hỗ trợ các doanh nghiệp dưới dạng này hay dạng khác. Vì vậy, việc túi nhựa PE bị kiện chống trợ cấp rất có thể là khởi đầu không mong muốn của những nguy cơ không thuận đối với hàng hóa xuất khẩu nước ta ở thị trường Hoa Kỳ và các thị trường khác về vấn đề này.

Ngoài ra, đối với riêng thị trường Hoa Kỳ, vụ kiện này đã phá vỡ một tiền lệ đối với Việt Nam mà Tòa án Hoa Kỳ đã thiết lập từ năm 1985 rằng việc kiện chống trợ cấp đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường là không thể (do thiếu các điều kiện để tính toán). Trong suốt một thời gian dài DOC đã thực hiện án lệ này cho các nước có nền kinh tế phi thị trường như Việt Nam. Vì vậy chúng ta đã có phần nào yên tâm rằng hàng hóa của ta sẽ không bị kiện chống trợ cấp tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đến năm 2005 DOC đã bỏ không áp dụng án lệ này với Trung Quốc, và tiến hành vụ điều tra chống trợ cấp đầu tiên đối với hàng hóa nước này (cũng là túi nhựa PE) với lý do nền kinh tế của Trung Quốc đã ở giai đoạn chuyển đổi, không còn là một nền kinh tế phi thị trường thuần túy như đề cập trong án lệ năm 1985 nữa (các nền kinh tế kế hoạch hóa thời Xô Viết). Năm 2009, DOC khởi xướng điều tra chống trợ cấp túi nhựa PE Việt Nam, bỏ qua án lệ năm 1985 nói trên đối với Việt Nam với lý do tương tự. Như vậy, “nền kinh tế phi thị trường” (mà Hoa Kỳ buộc Việt Nam phải chấp nhận trong đàm phán gia nhập WTO đến 2018) đã không còn là “lá chắn” bảo vệ hàng hóa xuất khẩu Việt Nam khỏi các vụ kiện chống trợ cấp tại Hoa Kỳ nữa. Điều này là một nguy cơ lớn nếu chúng ta biết rằng gần một nửa các vụ kiện chống trợ cấp mà WTO ghi nhận là do Hoa Kỳ tiến hành.

Rõ ràng vụ kiện chống trợ cấp túi nhựa PE tại Hoa Kỳ mang nhiều ý nghĩa cảnh báo vượt ra ngoài khuôn khổ của một vụ kiện phòng vệ thông thường.

Vậy theo bà, trên thực tế, hàng hoá Việt Nam có nguy cơ cao bị điều tra chống trợ cấp không?

Câu hỏi khó trả lời quá (cười). Tôi chỉ xin phép được lưu ý về hai thực tế sau đây mà các doanh nghiệp xuất khẩu của chúng ta cần quan tâm khi chuẩn bị tinh thần cho bất kỳ khả năng nào trong tương lai liên quan đến vấn đề này.

Thứ nhất, việc khởi kiện chống trợ cấp trong hầu hết tất cả các trường hợp nằm trong ý định chủ quan của ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu. Qua nhiều vụ kiện mà hàng hóa Việt Nam đã phải đối mặt ở nước ngoài, chúng ta cũng biết rằng nhiều khi lượng nhập khẩu cao và giá rẻ đủ để họ có cớ đi kiện dù trên thực tế chúng ta không bán phá giá, không trợ cấp và lý do thật sự nằm ở chỗ khác (trong năng lực cạnh tranh hạn chế của chính họ chẳng hạn). Đã là ý định chủ quan của họ thì ta khó đoán trước được để nói rằng họ sẽ kiện chống trợ cấp với chúng ta nhiều hay ít. Trong khi những “cái cớ” khách quan mà họ có thể viện dẫn (sự gia tăng nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam với giá rẻ) lại vẫn đang là một thực tế khi xuất khẩu của chúng ta bắt đầu khởi sắc hơn sau giai đoạn ảm đảm và chúng ta vẫn cạnh tranh bằng giá là chủ yếu.

Thứ hai, như tôi đã đề cập, trong lịch sử WTO, sau một giai đoạn kinh tế khó khăn, khi Chính phủ nước xuất khẩu phải tiến hành một số biện pháp hỗ trợ cần thiết cho doanh nghiệp, số lượng các vụ điều tra chống trợ cấp ở các nước nhập khẩu có xu hướng gia tăng. Có thể lấy ví dụ Hàn Quốc sau khủng hoảng kinh tế cuối những năm 80 đã phải đối mặt với một loạt các vụ kiện chống trợ cấp ở Hoa Kỳ và EU do các nước này cho rằng Hàn Quốc đã trợ cấp sản phẩm xuất khẩu. Nhiều chuyên gia đang lo ngại xu hướng như vậy có thể lặp lại sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa rồi. Với tình hình Việt Nam hiện nay (nền kinh tế phi thị trường và chỉ mới tham gia WTO chưa tới 3 năm), có những trợ cấp nào các doanh nghiệp Việt Nam không bị cấm nếu xuất hàng sang nước khác, theo quy định của WTO? Có những trợ cấp nào bị cấm?

Khi gia nhập WTO, chúng ta cam kết tuân thủ tất cả các quy định liên quan đến trợ cấp trong khuôn khổ WTO mà không có bảo lưu riêng nào. Đây là cam kết rất cụ thể và không liên quan gì đến việc chúng ta bị coi là nền kinh tế phi thị trường hay không, cũng không căn cứ vào việc chúng ta gia nhập WTO được bao lâu. Vì vậy, việc xem xét những trợ cấp nào cho doanh nghiệp không bị cấm phải xét theo các quy định chung của WTO về vấn đề này.

Cụ thể, theo Hiệp định về Trợ cấp và Biện pháp đối kháng của WTO thì đối với hàng công nghiệp, các trợ cấp xuất khẩu (trợ cấp để thúc đẩy xuất khẩu và yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa) đều bị cấm hoàn toàn. Các trợ cấp khác nếu được áp dụng chung (không cho riêng một hay một số doanh nghiệp, ngành hay lĩnh vực) thì cũng được xem là trợ cấp được phép.

Đối với hàng phi nông sản thì các hình thức trợ cấp được chấp nhận tương đối thoải mái hơn (trong Hiệp định Nông nghiệp của WTO), tuy nhiên trợ cấp xuất khẩu vẫn là hình thức bị cấm trừ trường hợp trợ cấp của nước đang phát triển nhằm giảm chi phí tiếp cận thị trường nước ngoài (như trợ cấp cước phí vận chuyển, nâng phẩm chất hàng hóa…) và trợ cấp vận tải.

Những thị trường nào có lịch sử hay điều tra chống trợ cấp, và thường là vào những mặt hàng nào?

So với kiện chống bán phá giá thì kiện chống trợ cấp ít phổ biến bởi nó liên quan đến cả Chính phủ nước xuất khẩu và việc tính toán các lợi ích và biên độ trợ cấp tương đối phức tạp. Theo số liệu mới nhất của WTO thì tính từ 1/1/1995 (năm thành lập WTO) đến hết tháng 6/2009 có tổng cộng 226 vụ điều tra chống trợ cấp được tiến hành ở 20 nước nhậu khẩu. Riêng Hoa Kỳ đã khởi xướng điều tra 94 vụ (chiếm tới trên 41% số vụ ở tất cả các nước thành viên WTO), bỏ xa khối nước thứ 2 là EU (với 48 vụ). Đứng thứ 3 là Canada (23 vụ), tiếp đến là Nam Phi (23 vụ) và Úc (10 vụ). Theo thống kê thì các mặt hàng là đối tượng kiện chống trợ cấp chủ yếu là kim loại cơ bản và các sản phẩm từ chúng, thực phẩm chế biến và đồ uống. Tuy nhiên, điều này ít có ý nghĩa bởi việc trợ cấp hay không, cho ngành nào thường phụ thuộc vào chính sách của Chính phủ nước xuất khẩu vào từng thời điểm.

Rất tiếc là các thị trường xuất khẩu chủ lực của chúng ta cũng là nơi có số lượng các vụ điều tra chống trợ cấp lớn nhất. Vì vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu cần đặc biệt lưu ý đến các động thái ở những thị trường này để có cách hành xử thích hợp trong từng trường hợp cụ thể (như ngăn chặn, đính chính ngay các tin đồn về việc hàng hóa được Chính phủ trợ cấp; thương lượng với ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu khi cần thiết để chặn ngay ý định kiện hoặc chí ít cũng biết trước về nguy cơ để có biện pháp đối phó trước).

Doanh nghiệp Việt Nam thường gặp những bất lợi gì trong những vụ kiện bị điều tra chống trợ cấp?

Doanh nghiệp chúng ta khi không may phải tham kiện phòng vệ thương mại như chống bán phá giá hay chống trợ cấp thường gặp những khó khăn chung đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước đang phát triển như hệ thống kế toán lộn xộn, không rõ ràng, không theo chuẩn quốc tế (và vì thế khó có tài liệu để chứng minh các vấn đề liên quan đến giá) hoặc thiếu nguồn lực để theo kiện (không có đủ nhân lực hiểu biết về việc kiện nên hành xử không đúng hướng, không kịp thời; không có quỹ dự phòng cho những vụ kiện như thế này nên không theo kiện được…).

Ngoài ra, một điểm khó chung trong các vụ kiện chống trợ cấp là các tính toán rất phức tạp (để xác định chính xác tác động của các loại trợ cấp khác nhau đến giá của sản phẩm). Với các doanh nghiệp chưa quen với vấn đề này và cũng chưa chuẩn bị để đối phó với chúng như doanh nghiệp Việt Nam chúng ta thì khó khăn này còn lớn hơn nữa.

Nguyễn Thu Trang

Expires

 
Attachments
Created at 03/06/2010 9:18  by hainx 
Last modified at 03/06/2010 9:18  by hainx 

ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
Số 2 Phạm Sư Mạnh, Hà Nội, Việt Nam
ĐT: (043) 8262549 - Fax: (043) 9348959
Email:
NCIEC@MOIT.GOV.VN

Cổng thông tin được xây dựng với hỗ trợ của Dự án MUTRAP II do Liên minh châu Âu tài trợ